Tâm biết đủ là người giàu nhất thiên hạ

THIÊN HẠ AI CŨNG CÓ TÂM. Tâm là một danh từ ai cũng có thể nói được, nhưng tâm là gì thì chẳng ai biết rõ ràng. Cái gốc của Phật pháp chinh là tâm.
 Người học Phật pháp phải biết rõ nguồn gốc đó chính là tâm của mình chứ chẳng phải tìm cầu nơi khác mà được. Trong thực tế cuộc sống, Phật giáo là nền giáo dục nhân bản, giúp cho con người nhận ra tâm pháp để giác ngộ, giải thoát và thành Phật ngay nơi thân này.
Nhưng tâm chia ra làm hai phần: Tâm chơn còn gọi là tâm thường biết rõ ràng, tâm vọng còn gọi là tâm phân biệt hư dối. Tâm chơn thì không thể dùng lời nói luận bàn, hay ý thức suy nghĩ mà được, chỉ thấy nghe hay biết mà không vọng động, hình ảnh sự vật như thế nào thì biết rõ như thế đó. Tâm vọng hư dối là hay suy nghĩ phân biệt tốt xấu, đúng sai, ta người…..
Tâm vọng hư dối là "cái hiểu biết phân biệt tốt xấu, đúng sai", hay còn gọi là phần tinh thần. Tâm không có hình tướng dài, ngắn, vuông, tròn, hay có màu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, nâu. Chúng ta không thể dùng con mắt mà thấy được tâm; cũng không thể dùng tay chơn sờ mó rờ đụng được tâm; chỉ thấy cái tác dụng của nó qua mắt tai mũi lưỡi thân ý, nên biết có tâm.
Tâm chân thật được hiển lộ qua sự thấy và nghe, khi thấy chỉ là thấy mà vẫn thường biết rõ ràng mọi hình ảnh sự vật, màu sắc xanh, trắng, đỏ, vàng. Khi nghe chỉ là nghe mà không dính mắc vào âm thanh lớn nhỏ, dễ chịu hay không dễ chịu, nhờ vậy ta luôn sống với tính nghe thường hằng.
Cũng như "điện", người ta không thể thấy nghe hay rờ mó được điện; chỉ do thấy cái tác dụng của nó mà biết có điện. Như cho điện vào bóng đèn thì thấy đèn sáng, cho điện vào quạt thì thấy quạt xoay, cho điện vào bàn ủi thì thấy nóng, cho điện vào tủ lạnh thì thể lỏng đông đặc lại v.v…. Chính vì vậy mà người ta biết là có điện. Tâm Phật chúng ta cũng lại như thế, vì nó có tác dụng thấy, nghe hay biết nương nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà không dấy niệm phân biệt tốt xấu, đúng sai v.v… nên chúng ta biết là có tâm Phật sáng suốt ngay nơi thân này.
 
Cuộc sống của chúng ta hằng ngày phải ăn cơm, uống nước, đi tiểu, đi đại, mặc áo, nói năng, tiếp khách, làm việc, đều phải có tâm hiển bày nên đã thường biết rõ ràng trong thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm.
Như ngài Thần Quang trước khi gặp Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma là ông tổ của Thiền tông, hành giả Thần Quang dù có ngồi Thiền cả ngày mà tâm niệm vẫn cứ lăng xăng, loạn động. Cho nên một hôm gặp được Tổ, Ngài thưa hỏi pháp yếu liễu thoát sinh sử!
Ngài Thần Quang thưa rằng: “tâm con không an, xin thầy chỉ dạy”. Tổ bảo, ngươi đem tâm ra đây ta an cho. Theo thói quen hằng ngày, ai cũng thấy tâm của mình là thật có, cho nên tôi suy nghĩ, tôi tính toán mọi đúng sai trong cuộc đời, và tôi là tất cả… Ở đây, bằng diệu thuật trong nhà thiền Tổ không nói cái gì cao siêu mà chỉ bảo rằng, “ông đem tâm ra ta an cho”. Ngài Thần Quang quay lại tìm tâm không thể được vì tâm có lúc ẩn, lúc hiện không rõ ràng, nên khi nhìn lại không thấy tâm ở đâu, do đó Ngài thưa với Tổ: Con tìm tâm không thể được. Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”.
Như vậy, an tâm là ở chỗ nào? Chỗ này quý vị phải nhìn kỹ lại mới thấy rõ ý sâu xa của nó. Đây là diệu thuật của Tổ Bồ-Đề-Đạt-Ma, “pháp an tâm” của  Tổ rất đơn giản và bình thường, bình thường đến nỗi ta khó mà chấp nhận được. Khi có niệm tham khởi lên, ta biết ta đang tham, biết một cách rõ ràng, không nhầm lẫn, đó là “pháp an tâm”. Khi biết như vậy niệm tham tự nhiên biến mất, ngay khi đó không phải an tâm là gì? An mà không có chỗ để an, chỉ đơn giản vậy thôi.
Có một triết gia nói như sau, “tôi suy nghĩ nên tôi hiện hữu”. Nếu vậy thì khi nghĩ tốt là tôi, còn khi nghĩ xấu là ai? Trong một ngày với cả trăm ngàn cái suy nghĩ phải quấy, tốt xấu, đúng sai. Vậy cái suy nghĩ nào là tôi? Cái suy nghĩ nào không phải của tôi? Như vậy suy nghĩ phải là tôi, còn suy nghĩ quấy là ai? Đã là tôi thì phải có chủ thể cố định trước sau như một, không biến đổi theo thời gian năm tháng, còn cái hay suy nghĩ khi tốt, khi xấu, lúc thiện, lúc ác thì sao? Vậy cái hay suy nghĩ có phải là tôi chăng? Chắc chắn không phải vậy, nhưng đa số người đời cho là như thế, nên chấp nhận chìm đắm trong biển khổ sông mê”.
Rồi từ đó, sinh ra kiến chấp ta là trung tâm của vũ trụ nên muốn chiếm hữu rồi tham lam giành lấy, chiếm đoạt về cho riêng mình. Khi tham được thì càng thêm tham tìm cách vơ vét về cho mình, gia đình mình, đất nước mình, khi tham không được thì sanh ra thù hận, oán ghét, tìm cách trả thù trở lại. Thế gian này luôn xãy ra chiến tranh tàn sát, giết hại lẫn nhau cũng chỉ vì do nhân chấp ngã mà ra, nên từ đó muốn chiếm hữu, thấy mình là quan trọng hơn thiên hạ, nên sanh tâm cống cao ngã mạn, chẳng coi ai ra gì.
Khi ta còn thấy phải thấy quấy, thấy tốt thấy xấu, thấy đúng thấy sai thì tâm của ta đã loạn động bất an không còn bình thường nữa, nên ta không thể nào nhận ra pháp an tâm. Bởi do chúng ta thường hay chấp cái tâm suy tư nghĩ tưởng này là thật, nên không nhận ra tâm Phật sáng suốt, mặc dù nó lúc nào cũng hiện hữu không bao giờ thiếu vắng. Cái gì thật thì trước sau như một không hề đổi thay, giống như gương sáng bản chất của nó đã tự sáng vì bụi phiền não che lắp, ta chỉ cần chùi bụi thì gương sẽ sáng tỏ.
Một hôm, tổ Huệ Khả sau thời gian nhận pháp an tâm, rồi đến trình Tổ sư: Con đã dứt hết các duyên. Tổ nói: Coi chừng rơi vào không. Huệ Khả thưa: Không rơi được. Tổ hỏi lại: Làm sao con biết? Con rõ ràng thường biết, nói không thể đến. Tổ bảo: Đây là chỗ truyền của chư Phật, xin chớ có hoài nghi.
Đến đây, ông tổ thiền tông ấn chứng cho tổ Huệ Khả đã sống trọn vẹn với pháp an tâm. Cái chỗ con tìm tâm không thể được mà vẫn thường biết rõ ràng đó, ai biết? Khi mắt chúng ta nhìn thấy mọi hình ảnh sự vật, đen biết đen, đỏ biết đỏ, sự vật như thế nào biết rõ như thế đó, thấy chỉ là thấy, thấy tức là biết, biết tức là tâm, tâm tức Phật.
Bởi vì chúng ta do bất giác vọng động chấp có, chấp không lấy cái ngã làm ta rồi sinh ra vọng thức phân biệt muốn chiếm đoạt về cho mình, nên từ đó tranh đấu giết hại lẫn nhau để chuốc lấy phiền muộn khổ đau, không có ngày thôi dứt.
Nếu cho cái suy tư nghĩ tưởng, tính toán phân biệt hiện giờ là tôi thì những cái ấy không có hình tướng cụ thể, chúng ta lúc nào cũng luôn luôn nghĩ suy tính toán. Cái nghĩ suy tính toán đó từng phút giây đổi thay khi thì nhớ chuyện này, lúc nhớ chuyện kia. Trong tâm niệm dời đổi đó, cái nào chính xác là tôi? Mới vừa buồn liền vui, mới thương liền ghét, nếu nói niệm thương là tôi vậy niệm ghét là ai?
Trong một ngày có ngàn cái suy tư nghĩ tưởng, mỗi sự diễn biến của nó đều khác nhau bởi các tạp niệm lăng xăng. Có khi chúng ta suy nghĩ điều lành, điều tốt như Phật, như Bồ-tát, có khi chúng ta suy nghĩ những điều dữ, điều xấu như quỷ la-sát… Như vậy trong các thứ suy tư, nghĩ tưởng nào chính xác là ta, là tôi?
Về tâm thì trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật muốn độ ngài A-nan nên hỏi rằng: “Ông nhân đâu mà phát tâm xuất gia?” Ngài A-nan bạch Phật: “Con nhân thấy ba mươi hai tướng của Phật tốt đẹp trang nghiêm phi thường, khác hơn tất cả người thế gian, nên con phát tâm xuất gia”. Phật hỏi: “Ông lấy cái gì thấy và lấy cái gì mà phát tâm?” Ngài A-nan thưa: “Con lấy mắt thấy Phật và lấy tâm suy nghĩ mà phát tâm”.
Để khai thị cho ngài A-nan Phật bảy lần gạn hỏi về tâm. Phần tâm Phật hỏi: Ông do thấy tướng tốt của Phật mà phát tâm, như vậy cái gì là tâm ông, tâm ông ở chỗ nào? Tôn giả A-nan thưa: “Cái suy nghĩ đó là tâm con và cái tâm suy nghĩ hiểu biết đó ở trong thân”.
Nhưng câu trả lời của A-nan nói tâm ở trong thân bị Phật bác. Rồi Ngài nói tâm ở ngoài thân, tâm ở trong con mắt v.v… Nói tâm ở chỗ nào cũng bị Phật không chấp nhận hết. Như vậy tâm ở chỗ nào? Hầu hết chúng ta đều lầm chấp cái hay suy nghĩ phân biệt là tâm của mình.
Tưởng tức là tưởng tượng, suy tưởng. Chữ tưởng có nghĩa rất rộng. Chúng ta tưởng tượng có cái ta thật, và chấp vào cái của ta như vợ ta, con ta, tài sản của ta .v..v. Nhưng chúng ta bây giờ làm sao dứt trừ tưởng được? Muốn dứt trừ chúng ta phải quán tưởng! Như chúng ta quán chiếu về vô thường, khổ, không, vô ngã của thân này để làm gì? Để phá sự chấp trước về sự tưởng tượng có cái ta thật. Nhờ quán chiếu như vậy chúng ta dần hồi chuyển hóa được sự vọng tưởng chấp có cái ta thật ngã, khi pháp quán đã thuần thục thì ta sẽ dùng trí tuệ để buông xả vọng niệm bằng cách nhận diện chúng như là một thực thể.
Ngày xưa có một thanh niên mỗi ngày đi làm phải qua một chuyến đò ngang. Mỗi người qua đò đều trả 2000 đồng. Khi đến bờ bên kia, mọi người đều trả 2000 đồng, riêng chàng thanh niên, cô lái đò đòi 4000 đồng gấp đôi số tiền. Chàng thanh niên ngạc nhiên hỏi lý do vì sao anh phải trả gấp đôi. Cô lái đò bảo: “Anh vừa qua đò vừa ngắm nhìn tôi nên phải trả gấp đôi”. Chàng thanh niên trả tiền mà trong lòng rất uất ức.
Bận về anh ta tiếp tục qua đò, lần này anh rút kinh nghiệm không dám nhìn cô lái nữa và tìm một góc ngồi rồi nhắm mắt lại. Khi đến bờ bên kia, cô lái đò lại đòi anh phải trả 8000 đồng giống như lần trước. Anh ta bảo: Lần trước tôi có nhìn cô nên phải trả gấp đôi số tiền qua đò. Hôm nay tôi đâu có nhìn cô, sao lại bắt tôi phải trả gấp đôi số tiền? Cô lái đò đáp: Lần trước anh nhìn tôi bằng mắt nên phải trả tiền gấp đôi. Lần này anh nhìn tôi bằng tâm nên phải trả gấp tư số tiền.
  Khi chúng ta thấy hình ảnh sự vật nếu thích ý vừa lòng nên lưu giữ lại bên trong bằng cách tưởng nhớ lại.
 
Tưởng tượng là trạng thái nhớ lại, biết lại do chúng ta đã từng tiếp xúc với một đối tượng nào đó. Chính vì tưởng tượng phong phú, dồi dào nên tâm dẫn ta đi lang thang đến tận cùng trời cuối đất mà không lúc nào dừng nghỉ.
 
Đối tượng của tưởng là trạng thái nhớ lại qua mắt thấy các hình ảnh sự vật đẹp hay xấu, tai nghe tiếng lớn nhỏ hoặc êm dịu hay nặng nề, mũi ngửi mủi thơm hay hôi, lưỡi nếm vị ngon ngọt hay đắng chát chua cay, thân xúc chạm nóng lạnh, êm ái hay khó chịu, ta nhớ lại các cảm giác đó mà thành ra có chấp giữ hay ghét bỏ.
 
  Chúng ta tư duy hay suy nghĩ về một vấn đề nào đó để hành động thì gọi là tư. Từ suy nghĩ chúng ta mới tạo tác, mới hành động, chúng ta suy nghĩ tốt nên dẫn đến hành động có lợi ích, ngược lại chúng ta suy nghĩ xấu dẫn đến hành động làm tổn hại cho nhiều người. 
Nếu chúng ta cho rằng cái hay suy tư nghĩ tưởng là tâm mình, cái suy nghĩ hiểu biết đó hay còn gọi là kiến thức, nhưng chúng có thật là tâm mình hay không, hay chúng ta chỉ vay mượn? Khi mình còn nhỏ, chúng ta có những kiến thức gì, khi lớn lên nhờ vay mượn của thầy của bạn, của gia đình và xã hội, nó có thật là của mình đâu! Các kiến thức thâu thập do học hỏi cũng chỉ là vay mượn của người chung quanh, chớ không phải thật là của mình.
Khi chúng ta lầm chấp các kiến thức vay mượn là thật của mình, chúng ta cho rằng tư tưởng của mình là đúng, của người là sai, ai cùng quan điểm thì thương, ai khác quan điểm thì ghét, vô tình chúng ta tạo ra ý thức hệ gây đau khổ cho nhau. Do vì các kiến thức được huân tập trong mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp khác nhau, nên tuy đồng sống trong gia đình mà chồng không giống vợ, cha không giống con, anh không giống em.
Sự không cảm thông về tư tưởng dễ gây ra bực bội, tức giận, buồn phiền rồi gây đau khổ cho nhau. Như vậy chúng ta sống cả ngày trong đau khổ lầm mê, từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội, chỉ vì chấp tư tưởng của mình là đúng, tư tưởng của người là sai.
Từ chỗ chấp cái hiểu biết, suy tư, nghĩ tưởng là mình trong hiện tại, đó là cái nhân thúc đẩy con người dẫn đến thọ sinh trong đời sau, nên gọi là nghiệp nhân. Rồi từ nghiệp nhân đó, khi hội đủ nhân duyên, nơi nào thích ứng liền chiêu cảm đến, tạo ra đời sống mới qua hình dạng khác.
Chỉ có tâm Phật sáng suốt thường biết rõ ràng, nghĩ không thể đến nương nơi mắt thì biết rõ ràng không nhầm lẫn, thấy chỉ là thấy, thấy tức biết, biết tức tâm, tâm là Phật, xưa nay vốn chỉ là như vậy, không sai không khác, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.
 TÂM VUA HAY SOI SÁNG CUỘC ĐỜI
 
Tâm vua là tượng trưng cho thể tính sáng suốt thường biết rõ ràng hay còn gọi là tâm Phật ngay nơi thân này, nhưng bên cạnh đó lại có đám tâm sở ác ăn theo, gọi là các nghiệp chướng căn bản phiền não làm hại người, vật, tâm sở thiện được phát huy làm sáng thêm tâm vua.
 
Nhưng nếu chỉ có một ông vua mà không có quan quân thần dân thiên hạ, từ người có học thức cho đến kẻ bần cùng, thì dù chúng ta có tài trí vẹn toàn cũng không thể làm gì được để giúp đỡ cho nhau. Thế gian này là một chuỗi dài nhân duyên nương vào nhau mới bảo tồn mạng sống, theo nguyên lý cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt.
 
Mắt của chúng ta thấy tất cả mọi hình ảnh sự vật, biết được rõ ràng các màu sắc xanh, đỏ, trắng, đen, nâu, vàng v.v… Cái biết này không thuộc về con mắt mà nương nơi mắt để thấy biết rõ ràng hình ảnh màu sắc một cách không lầm lẫn, sự vật như thế nào thì biết rõ như thế đó, nên gọi là nhãn thức, cái biết nương nơi mắt, tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế.
Trong Kinh Lăng Nghiêm vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: Con xưa nay chưa từng nghe sự chỉ dạy của Phật, gặp bọn Ca-chiên-diên, Tỳ-la-chi-tử đều nói: “Thân này sau khi chết không còn gì nữa, gọi là Niết-bàn.” Nay con tuy gặp Phật vẫn còn hồ nghi “làm sao phát huy chứng biết chỗ tâm này chẳng sanh chẳng diệt”?
Phật hỏi: Đại vương! Sắc thân hiện tại của ông là thường trụ chẳng hoại hay là biến hoại? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay sinh diệt thay đổi liên tục. Phật bảo: Đại vương! Ông chưa từng diệt làm sao biết nó diệt? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Thân biến hoại vô thường của con tuy chưa từng diệt, song con xem hiện tiền niệm niệm đổi dời luôn luôn chẳng dừng, như lửa tàn thành tro dần dần tiêu mất, nên con có thể biết thân này sẽ từ từ bị tiêu diệt.
Phật bảo: Đại vương! Đúng thế. Nay ông đã già đi theo thời gian, nhan mạo đâu giống lúc còn trẻ? Vua thưa : Bạch Thế Tôn! Thuở xưa con còn trẻ da dẻ tươi nhuận, đến lúc trưởng thành khí huyết sung mãn, nay con già cả suy yếu hình sắc khô khan, tinh thần mờ tối, tóc bạc mặt nhăn không còn bao lâu sẽ chết, làm sao sánh được với lúc khỏe mạnh sung mãn?
Phật bảo: Đại vương! Hình dung của ông đâu có thể già liền? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Nó thầm biến hóa đổi dời thật con chẳng biết, nóng lạnh đổi thay dần dần đến như thế. Vì sao? Khi con hai mươi tuổi tuy nói còn trẻ, hình tướng mặt mũi đã già hơn lúc mười tuổi, đến ba mươi tuổi lại suy hơn hai mươi tuổi, nay con đã sáu mươi hai tuổi rồi nhìn lại khi mới năm mươi tuổi rõ ràng cường tráng khỏe mạnh.
Kính bạch Thế Tôn! Sự thầm đổi dời tuy đặt thời hạn mười năm, song con suy xét kỹ nó biến đổi đâu những mười năm hai mươi năm, mà thật dời đổi từng năm; đâu chỉ từng năm, mà dời đổi từng tháng, đâu những từng tháng mà dời đổi từng ngày. Nhưng nếu suy xét chín chắn tế nhị hơn thì khoảng mỗi sát-na, mỗi niệm luôn đổi dời. Vì thế, nên con biết thân này trọn theo sự biến diệt.
Phật bảo: Đại vương! Ông thấy sự biến hóa đổi dời chẳng dừng, ngộ biết thân ông tiêu diệt; cũng chính khi diệt đó, ông biết trong thân có cái chẳng diệt chăng? Vua chấp tay bạch Phật: Thật con chẳng biết.
Phật bảo: Nay tôi chỉ cho ông biết cái tánh chẳng sanh diệt đó. Đại vương! Ông khi mấy tuổi được thấy sông Hằng? Vua thưa: Khi con được ba tuổi mẹ bồng đi yết kiến Thần Kỳ Bà Thiên ngay nơi sông này, khi ấy con mới biết sông Hằng.
Phật bảo: Đại vương! Như ông đã nói, khi hai mươi tuổi già hơn mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, năm tháng ngày giờ niệm niệm đổi dời, ắt khi ông ba tuổi thấy sông Hằng đến năm mười ba tuổi thấy sông Hằng, vậy cái thấy ấy ra sao?
Vua thưa: Như lúc ba tuổi rõ ràng không đổi, cho đến hiện nay sáu mươi hai tuổi cái thấy ấy vẫn không có khác. Phật bảo: Nay ông tự lo tóc bạc mặt nhăn, quyết định mặt nhăn hơn lúc còn trẻ, song hiện nay ông thấy sông Hằng cùng với cái thấy sông Hằng thuở xưa có trẻ, có già chăng?
Vua thưa: Kính bạch Thế Tôn! Dạ không ạ. Phật bảo: Đại vương! Mặt ông tuy nhăn, song tánh thấy của ông chưa từng nhăn; nhăn thì biến đổi, chẳng nhăn thì không biến đổi; biến đổi thì bị sanh diệt, cái không biến đổi vốn không sanh diệt, tại sao ở trong ấy chịu sanh tử với ông, mà ông dẫn lời Mạc-dà-lê... đều nói thân này sau khi chết là diệt hết?
Rồi cũng trong kinh Lăng Nghiêm Phật ở trong đại chúng đưa tay lên nắm lại xoè ra, nắm lại xoè ra, hỏi A-nan: "Nay ông thấy cái gì?" A-nan thưa: "Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai ở trong chúng xòe nắm". Phật bảo A-nan: "Ông thấy tay ta ở trong chúng xòe nắm, hay cái thấy của ông có xòe nắm"? A-nan thưa: "Tay trăm báu của Thế Tôn ở trong chúng xòe nắm, con thấy tay Như Lai tự xòe nắm, chẳng phải tánh thấy của con có xòe nắm". Phật hỏi: "Cái nào động, cái nào tịnh”? A-nan thưa: "Tay Phật động, tánh thấy của con còn không có tịnh, huống là động". Phật khen: "Đúng thế".
Khi đọc đoạn kinh trên, chúng ta thấy Phật chỉ rõ ràng ngay nơi thân này cái nào sanh diệt, cái nào chẳng sanh diệt. Thân là dòng biến động thay đổi từng phút giây, từ khi mở mắt chào đời cho đến khi khôn lớn trưởng thành rồi già, bệnh, chết tức là thân này không thật có cho nên vô thường hoại diệt. Tánh thấy nương nơi mắt xưa nay chưa từng thay đổi, thì làm gì có vô thường hoại diệt, bởi vì khi thấy mọi hình ảnh sự vật như thế nào, thì biết rõ như thế ấy mà vẫn thường biết rõ ràng.
Thiền sư Sùng Tín là con nhà bán bánh bao gần chùa, mỗi ngày đem bánh đến cúng dường Thiền sư Đạo Ngộ. Mỗi lần nhận bánh, thiền sư Đạo Ngộ để lại một cái cho sư và nói: "Ta cho ngươi lại một cái, để dành ân huệ cho con cháu về sau." và cứ như thế một thời gian dài. Thầy rất ngạc nhiên nên mới hỏi thì được thiền sư trả lời: "Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi một cái, có lỗi lầm gì"?
Sùng Tín từ đó mới thắc mắc mà không tìm ra đáp số, một hôm ông đến tìm gặp thiền sư hỏi cho biết rõ sự thật. Thiền sư nói: Nếu nhà ngươi muốn biết thì hãy phát tâm xuất gia học đạo đi, ta sẽ vì ông nói. Sùng Tín nghe nói vậy thu xếp việc gia đình xong xuôi, sau đó xuất gia học đạo. Tuy nhiên khi vào Thiền viện đã hơn 3 năm mà sư phụ chẳng chỉ dạy điều gì, làm cho ngài càng thêm thắc mắc hơn, nên tâm mới thành một khối?
Một hôm sư thưa: "Từ ngày con đến đây chưa từng được thầy chỉ dạy tâm yếu". Đạo Ngộ đáp: "Từ ngày ngươi đến đây, ta chưa từng chẳng dạy ngươi". Sư hỏi lại: "Chỉ dạy ở chỗ nào"? Đạo Ngộ bảo: "Ngươi dâng trà, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui, ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu"? Sư cuối đầu lặng thinh giây lâu. Đạo Ngộ bảo: Thấy thì thẳng đó liền thấy suy nghĩ liền sai. Nghe câu nói này sư có chút tỏ ngộ, rồi lại hỏi thêm: "Con làm sao gìn giữ"? Đạo Ngô bảo: "Mặc tính tiêu dao, tuỳ duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác". Ngay nơi câu nói này thầy triệt ngộ. Sau thầy đến trụ tại Long Đàm, dạy đồ chúng tu học.
Nói tánh thấy tức là chỉ cái thấy biết thường xuyên ngay nơi mắt chúng ta, khi chưa khởi niệm phân biệt để so sánh đẹp xấu, hơn thua. Thiền sư Sùng Tín lúc còn cư sĩ mỗi ngày phát tâm cúng dường mười cái bánh bao, khi nhận xong thiền sư cho lại Sùng Tín một cái, làm cho ông cư sĩ này phải thắc mắc và ấp ủ trong lòng vì sao có chuyện kỳ lạ như thế! Ngài tự nghĩ thầm, chắc có ý chỉ cao siêu gì đây? Sau nhiều lần gặp thiền sư mong được giải đáp thắc mắc trên, nhưng thiền sư không trả lời mà chỉ nói: “Bánh ngươi cúng, ta cho lại một cái có lỗi lầm gì”?
Hằng ngày ông ta làm bánh bao vừa bán, vừa cúng dường, chúng ta lưu ý, cái gì thấy mà biết là bánh bao. Chính chỗ này, thiền sư muốn chỉ tánh thấy nương nơi mắt để ông nhận ra ông chủ của mình là chơn tâm Phật tính mà sau này chỉ dạy lại cho con cháu về sau. Khi Sùng Tín nhận lại một cái bánh bao, cái gì thấy, cái gì biết, thấy biết cái bánh bao mà chưa khởi niệm phân biệt, vậy ngay khi ấy là gì? Thiền sư quá từ bi cho nên dồn đệ tử vào đường cùng, bắt buộc đệ tử phải chú tâm cao độ vào đó mà không còn nhớ những chuyện gì khác, nhờ vậy lâu ngày trở thành một khối.
Và một giải pháp cuối cùng muốn biết được điều đó thì anh cư sĩ này phải xuất gia. Nhưng khi được xuất gia rồi ông thầy bắt làm thị giả mà chẳng có lời nào chỉ dạy. Mỗi khi hỏi đến thì thiền sư gạt ngang chẳng thèm trả lời. Đây là chiêu thuật của các thiền sư muốn làm cho đệ tử chỉ thắc mắc một vấn đề đó thôi, nhờ vậy bao nhiêu tạp niệm khác, lần hồi rơi rụng theo thời gian vì sự chuyên nhất vào một chỗ.
Đợi cho đến lúc vị đệ tử của mình quá khát khao, thiền sư chỉ nói: Ta lúc nào cũng chỉ dạy tâm yếu? Ông cúng dường bánh cho ta! Ta cho lại ông một cái đó, ông mắt thấy tai nghe rõ ràng như vậy chỗ nào không phải là tâm yếu? Đến chỗ này thì trời đất mênh mông vô cùng tận cũng không ngoài cái thấy biết thanh tịnh như như.
Cho đến khi chúng ta mở hay nhắm mắt, nó cũng luôn luôn hiển lộ. Nó không lệ thuộc hoàn toàn vào mắt, cơ quan mắt tốt thì nó hiện sáng tỏ, cơ quan mắt xấu thì nó hiện lu mờ, cho đến cơ quan mắt hoại nó cũng không bị hoại theo. Người bị mù thì nhắm mắt thấy tối, đồng như người sáng mắt vào trong nhà tối đều vẫn thấy như nhau.
Đó là đặc tính thường biết rõ ràng nói không thể đến của tánh thấy nương nơi mắt, thiền sư Sùng tín nhận được tâm yếu từ tánh thấy, nên sau này giáo hóa mọi người cũng bằng phương pháp này.
 
Cũng trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy: "sáu căn là gốc luân hồi, sáu căn cũng là gốc Niết-bàn". Người muốn trở về chân tánh thường biết rõ ràng, không có cách nào khác hơn là phải nương vào mắt tai mũi lưỡi thân ý. Sáu căn là gốc luân hồi sinh tử, sáu căn cũng là gốc giải thoát, nguyên nhân vì sao lại có sai biệt như thế?
 
Trong cái thấy biết mọi hình ảnh sự vật, chúng ta chạy theo phân biệt là gốc vô minh; trong cái thấy biết, thấy chỉ là thấy không phân biệt là Niết-bàn. Đó là con đường trở về thể tánh chân thật hằng tri, hằng giác. Đó là sự chỉ dạy trong kinh Lăng Nghiêm và các thiền sư đồng một điểm, không có chỗ nào sai khác.
 
Như trong Kinh Lăng Nghiêm Phật bảo ngài A Nan đánh tiếng chuông rồi hỏi ngài có nghe không, ngài A Nan trả lời có. Đợi khi tiếng chuông im bặt một hồi lâu, Phật hỏi lại: “Ông có nghe không?”. Ngài A Nan trả lời: “Không nghe!”, liền bị Phật quở: “Tại sao ông quên mình theo vật?” Phật nói tiếp: “khi có tiếng, nghe có tiếng, khi không tiếng, nghe không tiếng”. Tính nghe luôn thường hằng nên có tiếng biết có tiếng, không tiếng biết không tiếng, vậy mà chúng ta không chịu thừa nhận nên luôn sống trong đau khổ lầm mê bởi vì chạy theo âm thanh lớn nhỏ, vừa ý hay không vừa ý.
 
Trong nhà thiền có một câu chuyện nói về tánh nghe, xin mời quý vị hãy cùng chúng tôi suy nghiệm: Thiền sư Cảnh Thanh đang ngồi trong thất, cạnh ngài có một vị Tăng đứng kế bên. Sư hỏi: “Bên ngoài có tiếng gì?” Tăng thưa: “Tiếng con nhái bị con rắn bắt kêu.” Sư nói: “Sẽ bảo chúng sinh đau khổ, lại có khổ chúng sinh.” Rắn bắt nhái là chúng sinh khổ vì con lớn hiếp con bé, song lại có khổ chúng sinh, chính là vị Tăng quên mất mình chạy theo ngoại cảnh bên ngoài. Đây là chiêu thuật của các vị Thiền sư để khám phá những người học đạo có sống được với tâm chân thật của mình qua tánh nghe hay không?
 
Hằng ngày từ sáng sớm đến chiều tối, tai chúng ta chỉ lắng nghe tiếng lớn, tiếng nhỏ êm dịu hay chát chúa bên ngoài. Chính vì vậy mà bị âm thanh làm cho khỗ não do ta không chịu thừa nhận mình có tính biết sáng suốt nương nơi tai. Vừa nghe tiếng liền khởi niệm phân biệt phải quấy, đúng sai rồi sinh tâm yêu ghét; cho nên nói “chúng sinh khổ, lại có khổ chúng sinh” là vậy. Người không biết tu thì khổ đã đành mà người đang tu cũng lại như thế.
 
Sáng hôm sau, Thiền sư hỏi vị Tăng khác: “Bên ngoài có tiếng gì?” Vị Tăng quá thành thật nên trả lời: “Tiếng mưa rơi!” Thiền sư bảo: “Chúng sinh điên đảo quên mình theo vật.” Chỉ có người đã thật sự sống với tâm chân thật của mình mới không chạy theo âm thanh lớn nhỏ bên ngoài. Tai nghe tiếng thì biết mình đang nghe mà không chạy theo tiếng, lại biết mình có tính nghe thường hằng là pháp tu của Bồ tát Quán Thế Âm. Âm thanh lớn nhỏ, xa gần lúc nào cũng có, tính nghe hiện hữu nên mới thường nghe. Nếu tính nghe bị gián đoạn thì tai ta có lúc nghe, lúc không.
 
Qua câu chuyện Phật dạy trong Kinh Lăng Nghiêm cho ngài A Nan và những Thiền sư tu theo cách hành thẳng nơi tâm không thông qua phương tiện, không hai không khác. Mỗi hành giả tu theo hạnh nguyện Bồ tát Quán Thế Âm cần phải thể nghiệm sâu sắc lời dạy trên để được giác ngộ, giải thoát và thành Phật.
 
Khi nghe âm thanh, chúng ta biết mình có tánh nghe, bao nhiêu âm thanh liên tục bên tai, ta không chạy theo chúng, chỉ nhớ mình đang có tánh nghe, nghe tất cả tiếng lớn nhỏ, êm dịu hoặc nặng nề. Chúng ta nhớ tánh nghe là không nhớ thanh trần, vì nghe chỉ là nghe. Tánh nghe thì thường hằng, thinh trần vì động tịnh nên sanh diệt. Hằng nghe là giác tri, chính nó hiện tướng của tánh giác.
 
Sống với tánh nghe là sống với hiện tướng của tánh giác chân thật, nên gọi là con đường vào cửa Niết-bàn. Trọn ngày chúng ta đi đứng nằm ngồi có bao nhiêu âm thanh lớn nhỏ văng vẵng bên tai, chúng ta chỉ vui vẻ nhẹ nhàng nhớ mình có tánh nghe đang nghe mọi âm thanh. Khi tọa thiền cũng thế, từ tiếng tích tắc đồng hồ, tiếng thằn lằn chắc lưỡi, tiếng gió rì rào bên ngoài…, chúng ta đều nghe, mà chỉ nhớ mình đang có tánh nghe, chớ không chạy theo tiếng để phân biệt lớn nhỏ, nặng nề hay êm dịu.
 
Như mắt chúng ta thấy hình ảnh sự vật, cảnh vật có thể đủ hình dạng màu sắc, nhưng cái thấy vẫn trước sau như một không bao giờ biến đổi theo thời gian. Khi có hình ảnh sự vật, mắt thấy rõ ràng, khi không có hình ảnh, mắt thấy không hình ảnh. Cảnh vật khi có, khi không biến đổi theo thời gian, cái thấy lúc nào cũng hiện tiền, cho đến khi mở mắt thấy sáng, nhắm mắt thấy tối. Thấy tối thấy sáng, là do sự nhắm mở của con mắt, chớ không ảnh hưởng gì đến cái thấy.
 
Ví như dòng điện lúc nào cũng sẵn có, gắn điện vào bóng đèn thì đèn sáng, gỡ bóng ra thì điện tắt. Nhẫn đến con mắt bị mù đi, cái thấy cũng không mất, nó sẽ phát hiện sang các bộ phận khác. Vì thế người mù thì lỗ tai nhạy, ý nhớ hay, cảm xúc nhanh. Như vậy, cái thấy không thuộc về cảnh, không tại con mắt, nó chính là tâm biết. Vì có thấy là có biết, biết tức là tâm, tâm tức Phật.
 
Cái nghe cũng lại như thế, có tiếng thì nghe tiếng, không tiếng nghe biết không tiếng. Tiếng thì lúc có lúc không, cái nghe lúc nào cũng có. Cho đến khi ngủ dường như không nghe, song có tiếng động mạnh liền giựt mình thức dậy. Khi tiếng động vang lên một lúc nhiều thứ, ta vẫn nghe rõ ràng tiếng nào ra tiếng ấy.
 
Dù là tiếng có đến trăm ngàn thứ nhưng cái nghe vẫn là một, cái nghe ấy quả thật là tâm. Thế là tâm thấy, tâm nghe vẫn hiện hữu thường trực nơi thân này. Cho nên chúng ta muốn quay lại chính mình để sống với tâm chân thật nương nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý chúng ta thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe mà không phân biệt ta người hoàn cảnh.
 
Khéo dùng phương tiện gợi cho người tham vấn nhận ra Phật tánh sáng suốt của mình, thường biểu hiện qua sáu căn là một xảo thuật của các thiền sư. Thiền sư dùng hình ảnh sự vật để đánh thức tánh thấy cho người, gọi là nanh vuốt trong tông môn, dùng âm thanh đánh thức tánh nghe cho người, gọi là một giọt sữa sư tử.
 
Ở đây chúng tôi dẫn chứng kinh Lăng Nghiêm và đối chiếu với các vị thiền sư qua tánh thấy, tánh nghe để cho mọi người cùng nhận ra tâm vua của mình mà sống đời an vui, tự tại giải thoát. Hai căn mắt và tai này, hằng ngày chúng ta tiếp xúc nhiều nhất, thường thì mắt thấy, tai nghe từ sáng sớm cho đến khi chiều tối. Chỉ cần chúng ta ứng dụng tu nương nơi hai căn thấy nghe này thì mau thành tựu đạo giác ngộ, giải thoát, mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế, một căn viên thông thì sáu căn cũng được viên thông theo.
 
ĐẶC TÍNH CỦA NGÃ
 Trong sự chấp ngã, bám víu vào cái ta và của ta rồi dẫn đến chiếm hữu, sự bám víu vào cái thân vật chất này ai cũng coi trọng nó, kẻ nào chạm đến sẽ bị phản kháng dữ dội. Cái ta ban đầu chỉ là sự bất giác của một vọng niệm được khởi lên và dính mắc vào đó, đến khi thành hình rồi thì nó cần một nền tảng vật chất để dựa vào đó mà hiện hữu. Nền tảng đó chính là sự hiện hữu và tồn tại cái thân này.
  Chúng ta bám víu vào thân cho đó là ta, là của ta rồi nâng niu, chăm sóc bảo vệ cho nó, đây gọi là "thân kiến". Khi ăn thì tìm món ngon vật lạ cho ta, khi uống thì tìm những thứ ngon ngọt ... Cũng từ sự ăn uống mà ngày nay trên thế giới sinh ra rất nhiều bệnh tật, dù khoa học có tiến bộ tới đâu cũng không thể nào theo kịp sự phát sinh và biến dạng của bệnh tật.
  Chúng ta mặc thì kiếm quần áo tốt đẹp có thương hiệu nổi tiếng để cho ta mặc. Ở thì phải xây nhà cao cửa rộng, nguy nga tráng lệ, có đẳng cấp sang trọng, quý phái để cho ta ở. Xe thì phải mua loại mắt tiền có giá trị từ bạc tỉ trở lên mới chịu để cho ta đi. Đồ dùng thì phải mua sắm đủ thứ tiện nghi hiện đại trang hoàng lộng lẫy đẹp mắt để cho ta ngắm và mong nhiều người khác khen tặng. Vợ chồng nói thương yêu nhau chung thủy, nhưng thật ra ai cũng thương thân mình là trước hết.
Cái ta ảo tưởng không thật có này, là trạng thái mê mờ không thấy rõ những gì đang xảy ra trong từng phút giây. Đức Phật dạy: Do ta không có sự trải nghiệm trong tu chứng nên lầm chấp thân này là ta, là của ta. Khi cái ta ảo tưởng có mặt thì cái "của ta" cũng theo đó mà phát sinh, rồi luyến ái chấp giữ muốn cái gì cũng là của riêng mình, ai xâm phạm đến ta sẽ kháng cự mãnh liệt. Như chúng ta đem lòng thương yêu một ai đó và muốn người ấy thuộc về mình mãi mãi.
 
Những gì tốt đẹp dễ có lợi cho mình thì ta thu thập, tích lũy, chiếm hữu, duy trì cho được bằng mọi cách. Cái gì không ưa thích thì ta tìm cách loại bỏ, khử trừ, xa lánh, hủy diệt. Như chúng tôi viết ra một tác phẩm được nhiều người ngưỡng mộ, ca ngợi, lúc này tôi cảm thấy hãnh diện và tự hào, bởi vì mình làm được điều khó làm. Còn, khi chúng tôi bị ai đó xem thường, sỉ nhục nói rằng sách của thầy dỡ quá thì cái ta biểu hiện mạnh mẽ để kháng cự, phẫn nộ và tìm cách muốn loại trừ đối tượng đó ngay.
 
Cái ta nếu được phát triển theo chiều hướng tốt đẹp làm lợi ích cho nhiều người thì còn có chỗ đóng góp, ngược lại cái ta được mở rộng theo chiều tiêu cực thì tệ nạn xã hội tràn lan gây thiệt hại cho nhân loại. Thực tế, nếu chúng ta có tu học một chút, ta sẽ thấy rõ thân tâm đều vô thường và hoàn cảnh hiện tại chẳng có gì là ta và của ta.
 
Tất cả mọi hiện tượng sự vật đều phải nương vào nhau để phát triển và tồn tại theo nguyên lý duyên khởi “cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt". Chẳng có cái gì tồn tại độc lập để sinh ra vạn vật cả, bởi vì bản chất của chúng vốn duyên sinh vô ngã.
 
Chính bản thân mình còn không thể gìn giữ được, vẫn phải tuân thủ theo tiến trình thay đổi của sự sinh, già, bệnh, chết huống gì những tiện nghi vật chất bên ngoài làm sao, chúng ta có thể nắm giữ được lâu dài! Cấu trúc của con người gồm có sắc thân, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. Năm yếu tố này luôn luôn thay đổi trong từng giây từng phút, không thực sự tồn tại lâu dài và chỉ có ta mê lầm mới muốn nắm bắt và chấp giữ nên tạo ra sự khổ đau.
 
Theo quan niệm của những người bình thường, chúng ta sống ở thế gian này để tìm kiếm sự ăn uống và hưởng thụ vui chơi. Mật ngọt của thế gian này rất nhiều thứ, đủ mọi hình thức để cám dỗ chúng ta. Nào giàu có, tiếng tăm, quyền lực, tình yêu, gia đình, ăn ngon, mặc đẹp, ngủ nhiều, nhà cao cửa rộng… Nhưng đến khi ra đi ta phải bỏ lại hết với sự nuối tiếc, vì chẳng đem theo được thứ gì.
 
Trong suốt một chặng đường dài để tìm kiếm và hưởng thụ ấy, chúng ta có thể gây ra khó khăn, và những khổ đau cho người khác. Khi đã có sự tranh giành, bám giữ, hưởng thụ thì lẽ đương nhiên là phải gây tổn thương cho con người và vạn vật!
 
Ngược lại với thái độ trên là yếu hèn, biếng nhác, chẳng muốn làm gì cả, chẳng muốn phát triển, mở mang và đóng góp. Như con ong chỉ muốn ở trong tổ của mình, không hút nhụy hoa để làm ra mật, để cho các hoa được thụ phấn mà làm ra một mùa trái ngọt.
 
Dân gian có câu: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống. Chúng ta sống để làm gì? Sống làm sao để cho mình và người khác được hạnh phúc thật sự?
 
Như ong hút mật rồi bay đi
Không làm hại đến hương sắc hoa
Người có hiểu biết chân chính
Luôn vị tha làm lợi ích cho đời.
 
Với người không có hiểu biết chân chính, họ sống là để tham lam, giành giựt chiếm đoạt, để có được nhiều hơn, bất kể mọi người khổ đau như thế nào họ không cần biết, họ chỉ biết rằng họ được ăn trên ngồi trước và nắm quyền sinh sát trong tay. Họ cho rằng đó ân sủng thượng đế đã dành cho họ. Cuộc sống của họ luôn tạo ra nỗi khổ niềm đau cho mọi người vì quan niệm sai lầm, bởi có một thần linh thượng đế ban phước giáng họa, sắp đặt mọi việc.
 
Nắm lấy, kéo về mình, cất giữ chất chứa là một thói quen xấu do ngu si chấp ngã thấy mình là trung tâm của vũ trụ. Loài người ngay từ nhỏ, khi mới chập chững biết bò, chúng ta cố trườn tới để nắm lấy một đồ vật trước mặt. Nếu nắm lấy được thì bỏ vào miệng không phân biệt dơ sạch. Lớn lên, chúng ta nắm bắt và càng chất chứa nhiều hơn nhờ biết phân biệt.
 
Cuộc sống bình thường của mọi người là vì cái ta và cái của ta. Và ai cũng biết, sự mở rộng của cái ta này rất giới hạn. Ngay cả một quốc gia, cũng bị giới hạn trong biên giới lãnh thổ của mình. Hai quốc gia cùng muốn nắm lấy một miếng đất nào đó, họ cố chấp tranh giành để chiếm đoạt, không ai chịu nhường cho ai, thì sẽ xãy ra chiến tranh.
 
Nắm lấy chất chứa là một thói quen từ sự chấp ngã của một con người. Cũng chính sự nắm lấy này khiến con người bị trói buộc về mặt tâm thức vào đối tượng mình chiếm hữu. Càng nắm giữ và chất chứa nhiều thì sự lệ thuộc, dính mắc bám víu càng nhiều. Cái ta càng được củng cố thì phiền não càng nhiều, sự thất vọng càng nhiều, tổn thương càng nhiều.
 
Chúng ta cũng cần phải hiểu rõ, không nắm giữ không có nghĩa là không có gì hết, không có cả một cái chén để ăn cơm. Chúng ta vẫn cầm cái ly để uống nước, nhưng chúng ta không dính mắc vào nó, khi lỡ làm bể cái ly chúng ta vẫn không tiếc rẻ, bực tức hay nỗi giận.
 
Với người có hiểu biết chân chính, họ đến để học thay vì cai trị, đến để cho, để cống hiến, để làm vun bồi thay vì tham lam chiếm đoạt. Họ đến để làm đẹp cho cuộc đời mà không làm tỗn hại cho ai, như con ong hút tinh chất của hoa, để làm ra mật mà không làm hư hoại đóa hoa.
 
Như chúng ta đã biết ai rồi cũng phải già, bệnh và chết, khi đói bụng thì phải ăn, khi khát nước cần phải uống, ăn uống rồi thì phải xả ra. Chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của cái ta ảo tưởng sinh diệt này, bằng cách chỉ cần quan sát sự sinh diệt của ý niệm đến rồi đi, chúng ta không cần xua đuổi khử trừ, không cần bám víu, nắm giữ.
Con người vì si mê lầm chấp, không thấy đúng lẽ thật nên luyến ái thân mạng; chấp thân tứ đại giả hợp cho là ta, là của ta, con ta, tài sản ta, gia đình ta, đất nước ta và ta là trung tâm của vũ trụ nên từ đó có học thuyết ông trời ra đời để ban phước giáng hoạ.
Chúng ta vì thấy thân này là thật nên lúc nào cũng muốn được ăn ngon mặc đẹp, ra sức sắm sửa nhà cao cửa rộng, tài sản tiện nghi, vật chất đầy đủ, xe cộ, tiền của, tôi tớ phục dịch để chứng tỏ đẳng cấp giàu sang. Muốn có được đời sống vật chất đầy đủ như thế chúng ta phải làm việc nhọc nhằn vất vả, phải tính toán công ăn việc làm để tích lũy tiền bạc, của cải vật chất cho nhiều.
Sự tham muốn đó không phải chỉ riêng một ai mà tất cả chúng ta ai cũng muốn được lợi phần mình nên tranh đua, giành giật để được phần hơn. Không ai chịu thua ai mà lúc nào cũng muốn chiếm ưu thế về mình. Đã đi vào trường đời thì phải tranh đua, giành giật nên có kẻ được người mất, kẻ thắng người thua, kẻ thành người bại. Người được thì vui trên sự đau khổ của kẻ khác, còn người mất thì đau khổ vô cùng.  
  Bám víu vào cái thân này cho là ta, nhưng có bao giờ cái thân này sống hoài đâu, giỏi lắm chừng 80 năm cuộc đời. Trước sau gì nó cũng phải tan rã, vì ai cũng phải già bệnh chết. Vậy sau khi chết, ta sẽ đi về đâu?  Vì không hiểu thấu luật nhân quả nên đa số đều cho rằng chết là hết, hoặc chết rồi linh hồn sẽ còn mãi mãi. Đây gọi là "biên kiến", tức là cái thấy nghiêng lệch một bên, không đúng với sự thật.

Trong Phật giáo, có khi nói cái ngã không thật, đôi khi lại còn đề cao cái ngã cho là độc tôn duy nhứt nữa. Như có một truyền thuyết nói: “Trên trời dưới đất, chỉ ta hơn hết, tất cả thế gian, sinh già bệnh chết”. Tại sao cũng đồng là ngã, khi thì nói cái ngã không thật, khi thì lại nói thật. Như vậy kinh Phật có mâu thuẫn và chống trái nhau không?

Đạo Phật ra đời là tùy bệnh cho thuốc, cho nên không có gì chống trái với nhau cả. Chữ ngã là đọc âm hán tự, có nghĩa là tôi, ta, hay mình v.v... Để chúng ta hiểu rõ hơn về chữ ngã, phàm nói ngã phải hội đủ ba yếu tố: “Chủ tể, thường nhứt và tự tại”. Cái ngã mà Phật giáo phủ nhận hay chủ trương vô ngã, đó là chỉ rõ cái ngã do nhân duyên hòa hợp mà hình thành. Đã do nhân duyên hòa hợp, cho nên nó không có chủ tể cố định, không thường nhứt và không được tự tại.
Như cái thân xác mà chúng ta đang mang đây, nhà Phật gọi là cái thân vô thường giả tạm, bởi do năm uẩn kết hợp mà thành. Năm uẩn đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc chất tức là thân này thuộc về phần tứ đại, tức gồm có 4 nguyên tố tụ hợp tạo thành. Như đất, nước, gió, lửa. Bốn thứ nầy được kết hợp trong điều kiện nhân duyên cưỡng ép. Chính vì vậy, mà chúng thường chống trái nhau rồi dẫn đến già, bệnh, chết.
Đây là phần kết hợp của thân vật chất. Còn về phần tinh thần hiểu biết, cũng do bốn thứ kết hợp: Thọ, tưởng, hành, thức. Thọ là sự cảm nhận vui hay khổ, hoặc không vui không khổ. Tưởng là nhớ lại những việc đã qua hay tưởng tượng đến những việc sắp đến. Hành là sự suy nghĩ biến đổi từng sát na của dòng tâm thức. Thức là sự phân biệt đúng sai, phải quấy, tốt xấu, hơn thua.v.v...Bốn thứ nầy cấu tạo thành hiện trạng tâm lý tinh thần của một con người. 

Như vậy, mỗi thân thể chúng ta được cấu tạo bởi hai phần: Vật chất và tinh thần. Đã nói là sự hình thành của thân này phải do nhiều thứ hợp lại, tất nhiên có hợp, phải có tan. Chính vì vậy, Phật nói thân này vô ngã có nghĩa là không thật có, có mà không thật.
Nói đến cái ta là chỉ cho chủ thể mạng sống. Nhưng mạng sống có hai: Giả tạm và thường còn. Mạng sống giả tạm là mạng sống còn bị lệ thuộc bởi nguyên lý duyên sinh nhân quả. Còn mạng sống thường còn, thì vượt ngoài nhân duyên đối đãi. Mạng sống thường còn Phật dạy, có nhiều tên gọi khác nhau. Như Chơn ngã, Pháp thân, Phật tánh, Niết bàn, Bản lai diện mục, Chơn lý tuyệt đối v.v...
Câu nói:  “Trên trời dưới đất, chỉ ta hơn hết, tất cả thế gian, sinh già bệnh chết”. Chữ ngã này là chỉ cho Chơn ngã tức Phật pháp thân, trong nhà thiền gọi là ông chủ thường biết rõ ràng, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, mũi lưỡi thân ý cũng lại như thế, chớ không phải là cái ngã dính mắc vào ta, người, chúng sinh, thọ giả. Chữ ngã nầy trong Kinh Đại Bát Niết Bàn gọi là thường, lạc, ngã, tịnh. 
 Từ nhỏ đến lớn, lúc nào ta cũng sống bám víu vào một người nào đó, nếu không có ai xung quanh thì sợ hãi, bơ vơ lạc lõng, bởi thế nên ta phải lấy chồng như bao nhiêu người khác, dù bị chồng hành hạ, chửi mắng, hất hủi, đánh đập cũng không dám bỏ vì sợ sống một mình. Nỗi lo sợ bị bỏ rơi, phải sống một mình là do sự chấp ta và của ta. Ta không thể sống một mình, ta cô đơn, ta buồn tủi giận hờn đủ thứ phiền não, để làm cho cái ta này ngày càng chấp ngã thêm.  
 Ta là người tu khá vì ta thuộc nhiều kinh, ta tụng kinh hay và giỏi nhất không ai bằng. Ta là người giữ giới trong sạch nhất, còn những người khác đều lem nhem không giữ trọn vẹn được. Ta là người công quả và hổ trợ cho nhà chùa nhiều nhất. Ta cúng dường nhiều cho chùa và thầy, ta được ghi danh vào sổ vàng và được tuyên dương trước mặt mọi người. Ta là người bỏ tiền ra xây chùa to Phật lớn nhất vùng này. Ta là đại thí chủ, là đại gia.
  Chùa của ta đẹp nhất, tượng Phật của ta lớn nhất không ai bằng. Ta làm phật sự nhiều, cho nên ai cũng đều biết danh tiếng của ta là số một cúng dường. Thầy của ta giỏi nhất, nổi tiếng nhất không ai bằng. Pháp môn của ta hay nhất, là tối thượng. Ta là một nhân vật quan trọng có tiếng tăm trong nhiều lĩnh vực. Nếu có ai vô ý xúc phạm quyền lợi, danh dự của ta, xem thường ta, chê bai thầy của ta, pháp môn của ta, trái ý ta thì ta nổi giận liền, tạo ra oan gia trái chủ rồi dẫn đến thù ghét mà công kích phá hoại nhau.
 Ta ngồi thiền giỏi, ta ngồi lâu hơn nhiều người và nhập định. Ta là người đặc biệt, được truyền y bát, được kế thừa tông môn, được truyền riêng pháp môn bí mật. Nói tóm lại, mỗi khi chúng ta khoe khoang, tức giận, kiêu mạn, khinh người, thì nên biết đó là cái ngã đang tăng trưởng và phình to ra vì có sự thọ nhận.  
 
 TÂM HƯ DỐI THỌ NHẬN MỌI CẢM GIÁC KHỔ VUI
 
Đã làm người và được sống, bất cứ ai cũng đều có cảm giác khoái lạc hay khổ đau. Cảm giác có thể sảng khoái hay dễ chịu hoặc không nằm trong hai điều đó. Chúng ta có thể thọ nhận sự dễ chịu hay sảng khoái là tùy thuộc theo đối tượng. Nếu cảm giác bị mất đi do bệnh tật thì con người phải sống đời thực vật mà không biết gì, tức là chúng ta không cảm nhận được sự sảng khoái và khó chịu.
 
Kinh Phật dạy tất cả thọ đều vô ngã, vì nó không thực thể cố định, không phải là ta, là của ta, chủ yếu là do sự tác động của đối tượng mà có cảm thọ dễ chịu hay khó chịu. Có những trường hợp không khó chịu cũng không khoái lạc, ta gọi là thọ xả.
 
Trong từng phút giây phát sinh đủ thứ cảm giác liên tục bởi sự tác động của sự dễ chịu hoặc khó chịu hay không nằm trong hai trường hợp đó. Ba loại cảm giác này phát sinh liên tục không có lúc nào dừng nghỉ tùy theo sự tác động đối tượng qua môi trường sống của chúng ta hằng ngày. Đang khát nước bởi ánh nắng oi bức của buổi trưa hè, được uống một ly nước cam, ta sẽ cảm nhận sự dễ chịu của nó qua hương vị ngọt ngào.
 
Trong tình yêu người ta thường thọ nhận cảm giác khoái lạc qua nhịp đập của trái tim, nên cuộc sống của chúng ta đương nhiên là phải hưởng thụ, nhưng càng hưởng thụ nhiều và luyến ái vào nó, chúng ta sẽ bị nghiện các cảm giác khoái lạc đê mê mà trở nên tham đắm và ghét bỏ.
Cái gì đến với ta mà ta nhận gọi là thọ, khi chúng ta thọ nhận sẽ đưa đến luyến ái và dính mắc vào đó muốn gìn giữ mãi. Ngày xưa có ông Phạm chí Trường-Trão là cậu ruột của Tôn giả Xá-lợi-phất. Ông này rất thích biện luận ngay khi còn nhỏ.
Một hôm ông biện luận với người chị của ông lúc ấy đang mang thai Xá-lợi-Phất và ông biện luận không lại bà chị. Ông nghĩ rằng những lần trước chị ta biện luận thua ta, nay chị ta biện luận hơn ta thì có lẽ lần này là do cái bào thai trong bụng tác động đến chị. Bây giờ ta thua chị chưa xấu hổ mấy vì ta là em, nhưng mai sau này mà thua cháu nữa thì xấu hổ biết mấy!
Ông cảm thấy hổ thẹn nên bỏ nhà ra đi, tầm sư học đạo để sau này trở thành người biện luận giỏi nhất thiên hạ và phải làm sao biện luận hơn người cháu của mình mới được.
Ông đi từ xứ nọ đến xứ kia để tìm thầy học. Người ta hỏi ông muốn học gì? Ông nói: Tôi muốn học hết tất cả kinh sách trong đời. Người ta bảo: Ông nói khoác, suốt đời ông học một bộ kinh đã được chưa mà nay bảo sẽ học hết kinh sách. Ông ta bực mình nói: Tôi ở nhà biện luận thì thua chị, đến đây thì bị mọi người châm biếm, chỉ trích.
Ông bắt đầu kể từ đó, học đến nỗi không có thì giờ cạo tóc, cạo râu, cắt móng tay. Vì thế người ta gọi ông là Phạm chí Trường-Trão có móng tay dài và râu tóc luộm thuộm.
Sau khi học xong ông tự thấy mình có khả năng biện tài vô ngại, không ai có thể đủ sức tranh luận với ông, ông bèn trở về nhà thăm chị và hỏi người cháu đó ở đâu. Bà chị bảo: Con tôi cháu cậu đã đi theo tu học với Sa môn Cù-đàm rồi. Ông hỏi: Sa môn Cù-đàm là người nào mà có thể làm cho cháu ta khuất phục mà nhận làm thầy, cháu ta là một người thông minh, tài giỏi từ khi còn trong bào thai?
Ông bèn đi tìm Xá-lợi-Phất. Khi đến chỗ Phật, ông nghĩ: Ông này đã thuyết phục được cháu ta làm đệ tử, chắc không phải là tay vừa. Bây giờ ta có nói gì chắc cũng sẽ bị bác bỏ, tức còn có ngôn ngữ luận bàn là còn quá dỡ. Nghĩ vậy, ông ta sẽ nói là không lãnh thọ gì hết.
Ông đến nơi gặp Sa môn Cù-đàm và nói rằng: Này Cù-đàm ông có biết không, tất cả pháp, tôi đều không thọ pháp nào cả. Không ngờ Phật hỏi lại: Vậy cái nhất thiết pháp chẳng thọ đó, ông có thọ không? Ông nghĩ: Bây giờ nói thọ thì mâu thuẫn quá, vừa mới nói không thọ đó mà bây giờ bảo có thọ làm sao được. Ông bèn trả lời không thọ. Phật nói: Ông không thọ thì ông cũng như bao nhiêu người khác, chứ ông có gì đặc biệt đâu mà ông tự kiêu hãnh, đến đây để biện tài tranh luận?
Như vậy, nếu chúng ta còn thọ một cái gì, còn chấp một cái gì là còn bị trói buộc, mê lầm vì còn chấp ngôn ngữ. Chính vì vậy, khi có tu học chúng ta sẽ thấy rõ ràng tất cả thọ đều vô ngã.
Phật dạy: Tất cả thọ đều vô ngã, Chúng ta hay bị kẹt vào cảm giác, cho dù cảm giác đó mang đến cho ta sự vui vẻ hạnh phúc hay khổ đau tột cùng. Cảm giác sảng khoái chúng ta gọi là thọ lạc, cảm giác khó chịu chúng ta gọi là thọ khổ và cảm giác không sảng khoái hay khó chịu chúng ta gọi là thọ xả.
 
Cuộc sống của chúng ta đủ thứ cảm giác do ta thọ nhận không ngoài ba thứ: Thọ vui, thọ khổ, thọ không khổ không vui. Do chúng ta bám víu và thọ nhận vào cảm giác khoái lạc, nên ta chìm đắm trong cảm giác đó mong mỏi được bền bỉ và lâu dài, ngược lại khi chúng ta thọ nhận sự đau khổ ta cứ ghim gút nó vào lòng mà không tự thọ xả.
 
Chúng ta thường xuyên làm việc thiện lành tốt đẹp thì hay có cảm giác sảng khoái nhiều hơn người làm việc xấu ác. Người làm việc ác mà cảm thấy thỏa mãn là thứ cảm xúc vô cảm, loại người này luôn làm tổn hại nhân loại.
 
Một người đến chửi mắng ta, ta có cảm giác bực tức và khó chịu, cảm giác này phát sinh bởi do chấp trước có cái thân này là thật ngã nên ta đùng đùng nỗi giận tìm cách trã đũa người đó. Chúng ta thường phân biệt giữa thiện và ác nhiều hơn mà không chú ý đến thọ xả, do đó ta sẽ thấy vui khi có cảm giác dễ chịu và sẽ thấy ghét khi có cảm giác khó chịu.
 
Một vị tu sĩ được nhiều người tôn trọng, cung kính ái mộ và nên người đó cảm thấy hạnh phúc vì được nhiều người tán thán, nhưng cảm giác hạnh phúc này chính là sự tự hào hãnh diện về mình. Cùng một thọ khổ và thọ lạc với một đối tượng, chúng có thể mang lại cảm giác sảng khoái hay khó chịu khác nhau.
 
Chúng ta chánh niệm tỉnh giác về thọ để không bị tham đắm và dính mắc vào đó mà tạo ra sự khổ, Phật dạy pháp quán cảm thọ trong cảm thọ để chúng ta thấy rõ các cảm giác buồn, vui, thương, ghét… chỉ là do sự chấp trước của chúng ta mà thôi.
 
Trong hạnh phúc có xen lẫn sự đau khổ, trong đau khổ có hạnh phúc và chẳng có gì thật sự gọi là đau khổ hay hạnh phúc cả, tất cả đều do ta chấp trước mà tạo ra sự khổ vui.
 
TÂM THAM LAM NHƯ GIẾNG SÂU KHÔNG ĐÁY
 
Lòng tham con người như giếng sâu không đáy không bao giờ biết chán, biết đủ, biết dừng. Người có quyền cao chức trọng thì lợi dụng chèn ép, bóc lột kẻ dưới. Người không được thì tìm cách trộm cướp, lường gạt của người khác. Kẻ bần cùng thì oán trời trách đất, oán ghét xã hội, bạn bè, người thân.
 
Có nhiều gia đình cha mẹ vừa nằm xuống thì trong nhà anh em ruột thịt đã tranh nhau đòi chia gia tài, so bì với nhau từ lằn ranh bờ đất, chửi bới thưa kiện nhau ra tòa để giành của về mình. Anh em ruột thịt còn như thế thì huống chi là người dưng nước lã, làm sao có thể thương yêu giúp đỡ nhau bằng tình người trong cuộc sống.
 
Người có tiền của còn tham như vậy thì nói gì đến người nghèo khổ, thiếu trước hụt sau. Trong cảnh túng quẫn có khi họ phải ăn trộm, cướp giật, lường gạt của người khác. Người Phật tử chân chính phải biết tạo dựng cho mình một đời sống trong sạch, miễn sao có miếng ăn thức uống vừa đủ mà trau dồi đạo đức tâm linh; biết nhường cơm xẻ áo, nhín ăn bớt mặc để giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh trên tinh thần của ít lòng nhiều.
 
Người thế gian trước tiên muốn thỏa mãn tiền bạc của cải rồi mới đến sự quyến rũ của sắc đẹp. Sắc đẹp cũng là vị ngọt mà cũng là vị đắng. Nó là một thứ men say tình ái khiến con người phải đam mê, thích thú, đắm say. Sự mến luyến khoái lạc cảm giác rồi mơn trớn, vuốt ve đã làm đại đa số anh hùng hào kiệt đều chết dưới lỗ chân trâu.
 
Tai hại của lòng đam mê sắc dục làm biết bao người phải hao tài tốn của, tán gia bại sản. Hạnh phúc gia đình đổ vỡ cũng vì sự tham muốn quá đáng mà vợ chồng gây gỗ, đánh đập nhau vì ghen tuông, hờn mát.
 
Tình chồng nghĩa vợ bấy lâu bị mất mát, đổ vỡ có thể làm con người ta đau khổ đến tột cùng. Lòng khát ái của con người không bao giờ biết đủ vì họ không bao giờ thấy thỏa mãn trong cuộc tìm kiếm, săn đuổi tình yêu; cũng giống như người khát nước mà uống nước muối nên càng uống lại càng khát. Họ cứ đi tìm những thụ hưởng cảm giác mới lạ có tính cách dị hợm, thậm chí có một số nước họ chơi trò đổi vợ qua lại để tạo thú vui thấp hèn, trụy lạc.
 
Tâm tham tức là tham lam mong muốn quá đáng. Chúng ta hãy nghĩ rằng có được đầy đủ tiện nghi vật chất là hạnh phúc lâu dài, nên ta luôn tìm cách chiếm đoạt. Như chúng ta đã biết, dù biết rằng những ước muốn quá xa rời, không thực tế, nhưng chúng ta vẫn cố tìm mọi cách trong vô vọng. Người tham lam, tánh hay để ý dòm ngó, rình rập những gì họ ưa thích như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, miếng ăn, chỗ ở và làm sao có đầy đủ phương tiện về mọi mặt…
 
Từ tham lam dẫn đến tham vọng rồi từ đó họ bày mưu lập kế, để tìm kiếm cho được những gì họ ưa thích chẳng cần biết là thiệt hại cho ai, nên tục ngữ có câu: "Bể kia dễ lắp, túi tham khó đầy". Tham cho mình, rồi tham cho gia đình người thân và tham cho cả quốc gia, xã hội của mình. Tham vọng bắt nguồn từ sự tâm tham cầu quá đáng, nên nó khiến cho ta đau khổ, vì được thì phải gìn giữ sợ mất mát, không được thì phiền muộn khổ đau.
  Khi chúng ta thấy cái gì vừa ý như sắc đẹp, tiền tài, danh vọng, lợi dưỡng thì ưa thích, luyến ái, muốn chiếm hữu, đó gọi là "tham", tham lam, tham vọng hay tham cầu. Lòng tham không có đáy, cho nên ta tham cho mình chưa đủ, tham luôn cho gia đình người thân của ta, rộng đến là tham cho đất nước của ta. Cũng vì tham lam mà làm cho ta ăn không ngon, ngủ không yên, đầu óc lúc nào cũng phải lo nghĩ, tính toán làm sao vơ vét về cho mình thật nhiều.
  Nhiều người đi tu rồi để tìm sự giác ngộ, giải thoát mà vẫn để lòng tham ngự trị dưới hình thức vi tế hơn, như thích có chùa to Phật lớn, thích nhiều người tôn kính cúng dường, thích có nhiều đệ tử, thích được nhiều người biết đến, ham thích các địa vị chức sắc trong giáo hội.
 Tham có nhiều trạng thái được biểu hiện qua sự: ưa, thích, yêu, thương, ham, muốn, thèm, khát. Khởi đầu là ưa, rồi từ từ tới thích. Nếu đối tượng là người thì dẫn tới yêu thương rồi luyến ái chấp giữ.  Nếu đối tượng là đồ vật thì tham lam muốn chiếm đoạt. Khi tham muốn nhiều thì trở thành thói quen mà sinh ra thèm. Thèm quá thì thành ra có khát khao, tức là không có thì không thể chịu đựng được hay còn gọi là nghiện. 
 Cũng vì tham vọng, tham cầu quá đáng mà con người tranh giành xâu xé cướp bóc giết hại lẫn nhau, gây đau thương tang tóc cho nhiều người. Tham là một loại phiền não, không những có hại cho mình trong hiện tại mà còn có hại cho mình trong tương lai và còn liên lụy đến nhiều người khác nữa.
 
  Những người có quyền cao chức trọng, thường có tham vọng rất lớn và họ là những người có ý chí, nên dễ dàng làm nên việc lớn. Chính chỗ tham vọng đó mà xã hội mới tiến bộ và phát triển, những kẻ an phận thủ thường không bao giờ có địa vị cao trong xã hội.
 
  Có hai loại muốn mà ai cũng có thể bị nó chi phối là tham muốn và mong muốn. Tham muốn là sao? Là nhất quyết muốn cho bằng được, nếu không được thì bất mãn, tức tối khó chịu, phiền muộn giận dỗi phát sinh tìm cách chiếm đoạt. Do đó tham muốn càng nhiều thì càng phát sinh các thứ phiền não, vì tham muốn mà không được như ý, nếu được thì tham càng thêm tham, nếu tham không được thì sinh ra giận hờn khó chịu, tìm cách trả thù.
 
  Mong muốn có nghĩa là mong cầu, ước mơ, nếu có cũng được, không có cũng không sao. Tham muốn và mong muốn khác nhau ở chỗ đó, một đàng muốn cho bằng được, nếu không được thì nỗi giận oán hờn tìm cách trả đủa và quyết tâm chiếm đoạt về cho mình, nên bất chấp luân thường đạo lý có khi cũng phải giết người để thỏa mãn lòng tham muốn của mình. Trong cuộc sống này chúng ta có quyền ước mơ mong muốn, chớ đừng nên tham muốn quá đáng mà làm khổ đau cho nhau.
 
  Như chúng ta đã biết, ít ai trong cuộc đời này mà không tham muốn. Có sự sống là có tham muốn, nhưng tham muốn nhiều hay ít là tùy theo sở thích của mỗi người mà thôi. Tham có nghĩa là tham lam ích kỷ, nhỏ mọn, làm cái gì cũng muốn đem về cho riêng mình, dù có của dư thà để đó mục nát, chứ không dám đem ra giúp đỡ cho ai hết.
 
 Khi tham lam khiến con người ta suy nghĩ, nói năng, hành động một cách độc tài để làm thế nào vơ vét về cho mình hay đất nước mình thật nhiều. Hiện tượng này ngày nay đã tràn lan khắp các nước cường quốc, do đó mà chiến tranh cứ tiếp tục tái diễn hoài không bao giờ có hồi kết thúc. Cá lớn nuốt cá bé đó là chuyện đương nhiên, con người cũng lại như thế khó bao giờ bằng lòng với những gì đã có trong hiện tại.
 
 Có nhiều người làm lụng, vất vả để có thật nhều tiền mà không dám tiêu xài hay giúp một ai khi cần thiết, họ chỉ chủ yếu mong mọi người biết đến mình là người giàu có! Họ sắm xe hơi đắt tiền mà không dám chạy, chỉ trưng bày cho nhiều người xem để chứng tỏ đẳng cấp giàu sang của mình.
 
 Chúng ta chỉ muốn thu về cho riêng mình, những gì thuộc quyền sở hữu của kẻ khác, đó là ta đánh mất đi tình thương yêu nhân loại, kẻ mê mới hành xử như thế, chúng ta hãy cho đi đến tận cùng để được sống chan hòa với trái tim hiểu biết, bằng tình người trong cuộc sống.
 
TÂM NÓNG GIẬN LÀM HẠI ĐỜI CHÚNG TA              
Người xưa nói: “Sân si nghiệp chướng không chừa, bo bo mà giữ tương dưa làm gì”? Sân là nóng nảy. Người có thói quen hay nóng nảy, gặp những việc trái ý nghịch lòng thì dễ nổi nóng lên, trong tâm bực tức khó chịu, ngoài mặt nhăn nhó, trông xấu xí khổ sở vô cùng.  
Sân có nghĩa là nóng giận bộc phát ra bên ngoài khi ta không hài lòng hay bất bình về một điều gì đó. Sân được biểu lộ qua những trạng thái như đỏ mặt tía tai, bực tức, la hét, xỉa xói, nguyền rủa, chửi mắng, đánh đập, thậm chí có thể giết người khi không làm chủ được bản thân. Song song với sân là hận, có nghĩa là hờn, là dỗi, còn gọi là oán hờn, bức rức, khó chịu trong tâm. Theo từ Hán Việt, ta gọi chung là “sân hận”, một trạng thái của tâm được thể hiện ra bên ngoài gọi là sân, âm ỉ sôi sục bên trong gọi là hận.
Người nóng tính khi việc qua rồi sẽ không nhớ lại vì lời bộc trực họ nói rồi thôi, nhưng khi hận ai thì họ nhớ hoài, lâu ngày sinh ra thù ghét, mà đã thù ghét thì họ cố tình tìm đủ mọi cách để hại được người, nên mới gọi là hận thù. Nhất là những người làm chính trị; họ luyện tập để cơn giận không thể hiện ra bên ngoài, nhưng được đè nén, kìm hãm bên trong, nên đối phương không hề phác giác. Hạng người này rất nguy hiểm, họ giết người không bằng gươm đao, giết không gướm tay vì quyền lực, danh vọng, và có thể giết luôn cả người thân nếu cần thiết để bảo vệ quyền lợi riêng tư của mình.
Có một nhà vua nọ là người rất thích săn bắn, ông ta thường xuyên dẫn con chó đi theo mỗi khi đi săn, bởi vì nó giúp cho vua bắt được nhiều thú. Con chó ấy đã được nhà vua nuôi từ khi còn bé và đã huấn luyện nó trở thành một con chó săn mồi vô địch và vô cùng trung thành. 
 
Khi vừa vào đến bìa rừng là con chó chạy nhanh và đánh hơi các con mồi, khi thấy mục tiêu nó sẽ tìm đủ mọi cách tiêu diệt con mồi hoặc khống chế để báo hiệu cho nhà vua biết. Chuyến đi săn hôm ấy thất bại, nhà vua cùng mọi người không săn được nhiều thú như thường ngày, nên nhà vua rất bực tức và khó chịu. Cả đoàn tùy tùng đều rất mệt mỏi nên nhà vua cho họ về trước, còn mình ông ta và con chó trung thành tà tà về sau.
Đi được một chút thì nhà vua thấy khát nước, ông ta ra hiệu cho con chó chạy đánh hơi tìm nguồn nước. Đi được một đoạn nhà vua mới thấy có dòng nước chảy từ khe đá, trong cơn khát nhà vua lấy chiếc cốc trong túi ra và hứng nước để uống.
Khi con chó chạy về thì thấy nhà vua đã hứng đầy cốc nước và chuẩn bị đưa lên miệng để uống, nó liền lao đến dùng chân đẫy văng cốc nước. Nhà vua tức giận quá nhưng kiềm chế được nên nhặt chiếc cốc lên và hứng tiếp nước để uống, một lần nữa cho chó chạy lại hất đổ cốc nước. Lần này thì nhà vua không còn dằn nỗi cơn giận nên đã rút kiếm ra quát lớn: “Này con chó yêu quý, sao nhà ngươi dám phạm thượng, ta sẽ cho ngươi một đao bây giờ”. Vừa nói xong nhà vua định cầm cốc nước để uống, thì con chó vẫn chạy đến hất đổ cốc nước và chỉ bằng một nhát kiếm, con chó bị chặt đứt ra làm hai.
Chuyện gì cũng đều có nguyên nhân của nó, chúng ta hãy tìm hiểu cho kỹ càng khi có những sự việc xảy ra và khi chúng ta biết kiềm chế, nhất định ta không được hành động khi đang tức giận, có thể chúng ta sẽ phải hối hận cả đời vì sự nóng giận của mình.
Ai mang tâm niệm thù hận này vào lòng mà không biết cách buông xả, trước nhất sẽ làm cho chính mình bất an, bực tức, khó chịu mỗi khi gặp hoặc nghe nói đến người đó. Hạng người này thật sự đáng thương hơn là đáng ghét. Họ bị vô minh, mê muội che lấp, nên dù có học Phật pháp nhiều năm họ cũng cố chấp y như vậy, bởi những thói quen sân giận.
Họ luôn thấy mình là thầy thiên hạ, càng ở chùa lâu càng si mê, sân hận, chấp trước, bám víu, và dính mắc vào đó. Người mang tâm niệm hận thù như thế trước mắt chưa hại được ai, mà đã tự hại chính mình, có khác gì kẻ đốt đuốc mà đi ngược chiều gió vậy. Kẻ ngu cũng sẽ như thế, chưa hại được ai mà đã tự đốt mình bằng ngọn lửa sân hận bốc cháy bên trong.
Nóng giận là thói quen thông thường của nhiều người, nhưng giận mà biết điều phục cơn giận, hay chuyển hóa cân bằng cơn giận thì lại rất khó đối với phàm phu, tục tử chúng ta. Có người vì chút nóng giận mà ôm hận cả đời, thề chết đem theo chứ một lòng không dứt. Cũng như kẻ ngu, nhất quyết trả thù dù phải chết trước nhưng lòng vẫn vui mà không hề buồn phiền. Hắn chỉ mong sao kẻ thù phải chết là được rồi, hắn không cần cầu mong gì hơn. Đúng là ngậm máu phun người dơ miệng mình, như kẻ ngu xịt thuốc trừ sâu, lại đứng ngược gió để hứng trọn bao nhiêu chất độc, nhẹ thì sơ cứu, nặng thì tàn tật, hoặc chết người như chơi.
Khi tham hoặc ham muốn cái gì mà không được như ý thì ta tức tối, nổi giận, la hét, mắng chửi, đó gọi là "nóng giận". Khi lửa sân bùng phát quá mạnh khiến cho ta mất hết tự chủ, có thể dẫn đến la hét chửi bới rồi thượng chân hạ cẳng, hoặc dùng khí giới để sát hại kẻ đã làm trái ý ta. Mắng chửi rồi đánh người, giết người cho hả cơn tức giận, để rồi sau đó mới ăn năn hối hận thì đã quá muộn màng.
  Khi gặp chướng duyên hay nghịch cảnh, trước hết ta nổi nóng lên, kế đó sanh ra tức giận nghẹn ngào, nói chẳng ra tiếng, hoặc tuôn ra nước mắt lộ ra gương mặt hầm hừ, bộ dạng hung hăng, mất tánh ôn hòa nhã nhặn. Vì tức giận nên mới đánh đập chưởi mắng người, làm những điều tội lỗi. Vì tức giận mà ta đập bàn, vỗ ghế, la ó ray rà, mất hết tư cách của người Phật tử. Vì tức giận mà chúng ta có thể đánh người một cách tàn nhẫn chẳng biết thương tiếc, có khi không kiềm chế được cơn giận ta tự đánh mất chính mình để làm tổn thương người khác. 
Chính vì vậy trong các phiền não, sân hận, nóng giận là tai hại nặng nề nhất, vì có thể đưa đến tội ác trong chớp nhoáng do chửi mắng rồi đánh người, giết người. Một niệm sân khởi lên có thể đốt cháy trăm ngàn rừng công đức mà ta đã gieo trồng từ trước đến nay, sự nghiệp tiêu tan, thân bại danh liệt. Cùng họ hàng với sân gồm có: bực, tức, giận, hờn, oán, thù hằn, ghét bỏ. Khởi đầu của sân là bực. Bực mà không giải tỏa được thì sinh ra tức. Tức quá không kiềm chế được sinh ra giận.
Giận là sự bùng cháy khiến con người ta nóng nảy mất tự chủ. Khi cơn bùng cháy kéo dài mà không hết hẳn lại còn âm ỉ sôi sục bên trong thì gọi là hờn, trong người cảm thấy hờn mát hoài không nguôi thì đâm ra thù hằn và ghét bỏ dẫn đến oán giận. Oán giận lâu ngày thành ra thù hận rồi tìm cách trả đũa mà giết hại một cách tàn nhẫn.
Người Phật tử chân chính phải biết kiềm chế sự nóng giận để không xãy ra tai nạn đáng tiếc, bằng cách quán tình thương, quán từ bi và thấy ai cũng là vị Phật hiện tại và tương lai, nên ta dễ dàng điều phục được cơn giận. 
TÂM SI MÊ LÀM MÌNH VÀ NGƯỜI KHỔ ĐAU           
SI là si mê, mê muội không nhận định đúng sai, có chỗ gọi là vô minh hay còn gọi là ngu dại. Đối với sự vật hiện tiền, tâm tánh mờ ám, không có trí huệ sáng suốt để phán đoán việc tốt xấu, hay dỡ, lành dữ, đúng sai v.v… nên mới làm những điều tội lổi, làm tổn hại cho mình và người.
Chúng ta ngu si mê muội nên chấp thân tâm làm ngã là căn bệnh thâm căn cố đế của mọi người, cho nên ai cũng thừa nhận cái hay suy tư, nghĩ tưởng, phân biệt, nhận thức, cảm thọ làm tâm mình. Có người nói rằng tôi suy nghĩ nên tôi hiện hữu, vậy những lúc không suy nghĩ là ai, chẳng lẽ mất mình hay sao?
Bởi do si mê chấp thân này làm ngã nên ta sanh tham đắm dính mắc vào nó, tưởng nó chân thật, nó lâu dài, nó sang quí và cao cả. Khi tham không được, liền nổi cơn oán giận thù hằn. Do si mê về thân, nên ta mới quí thân và quí luôn những vật sở hữu của ta. Thế nên những nhu cầu về vật chất của bản thân, chúng ta lúc nào cũng tham muốn cho được đầy đủ sung túc.
Chấp thân này làm ngã là bệnh thông thường của mọi người. Tất cả người thế gian ai cũng chấp thân này làm thật ngã, là ta, là của ta. Bởi chấp thân này làm ngã nên thấy nó thật, nó lâu dài, nó cao cả quí báu, rồi đắm mê tham lam vì nó. Thân của ta mà bị ai xúc phạm đến liền nổi sân lên, mặc dù người ta nói bằng sự thật rất hợp lý. Như thân ta đen lùn xấu, người khác chê “lùn xấu”, ta liền bực tức khó chịu. Ngược lại, thân ta đen xấu mà có ai mới gặp liền khen sao hôm nay em thấy anh “đẹp trai”, ta liền hoan hỷ, vui vẻ.
Chúng ta vì tham có nhiều của cải vật chất, nên ai cũng tranh đua giành giật bất kể sự khổ đau của người khác. Do đó, tạo nghiệp trả vay từ đời này đến kiếp nọ không có ngày thôi dứt. Vì tham và quý thân nên khi thân sắp hoại, người ta sanh ra lo lắng, sợ hãi. Nỗi lo sợ mất thân là sự khủng khiếp nhất của con người. Vì thế, tiếng “chết” coi như là một điều cấm kỵ, chúng ta không bao giờ dám dùng đến. Bởi si mê chấp thân nên chúng ta cứ như thế mà mãi mãi khổ đau trong luân hồi sanh tử vô cùng tận.
Rồi cho đến chúng ta chấp tâm này làm ngã, cái hay suy tư nghĩ tưởng có cả trăm ngàn thứ, buồn thương, giận ghét, phải quấy, tốt xấu, hơn thua, đúng sai, thiện ác, lành dữ, tâm niệm luôn dời đổi liên tục không lúc nào dừng nghỉ. Khi nghĩ thiện là tôi, vậy khi nghĩ ác là ai, không lẽ cái tôi có nhiều thứ như vậy hay sao?
Tâm niệm luôn thay đổi triền miên không có lúc nào dừng nghỉ, nhưng chung quy cũng nằm trong hai tâm niệm thiện ác. Từ đó suy ra tâm niệm luôn thường xuyên thay đổi theo thói quen huân tập hằng ngày, sở dĩ con người tranh đấu giết hại lẫn nhau là do ngu si chấp ngã mà ra.
Ai cũng muốn mình hơn thiên hạ và tham lam bắt mọi người phải phục vụ cho mình. Con người phục vụ cho con người vì có giai cấp chủ và tớ, theo quan niệm của đấng sáng tạo mọi thứ đều cố định cả không thể nào thay đổi được. Loài vật dùng để cúng tế thần linh và đáp ứng cái ăn cho người, ai theo truyền thống này sẽ cám ơn thượng đế đã ban tặng cho họ có sự sống.
Chúng ta cứ nghĩ rằng mọi cái, mọi thứ, đều do đấng tối cao sắp đặt, phụ nữ thì có nhiệm vụ sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường lo mọi việc trong nhà, không được làm việc quan hệ bên ngoài. Giai cấp quý tộc thì được quyền ăn trên ngồi trước, bóc lột kẻ cùng đinh hạ tiện để phục vụ cho bản ngã của mình, cũng từ sự phân biệt tính toán khôn ngoan của ý thức con người.
Từ si mê mới cho rằng đời sống dài cả trăm năm nên lo tạo dựng sự nghiệp, gia đình, công danh, tài sản, của cải để con cháu đời sau hưởng đến khi tắt thở cũng chưa mòn. Vì vậy mà cả một đời mấy chục năm ròng ta cứ lao vào hình thức vật chất mà không nghĩ đến tâm tư của mình trong sáng hay tối tăm; không màng đến việc trau dồi nhân cách, đạo đức mà chỉ đuổi theo những cái tạm bợ, phù phiếm bên ngoài.
 
Đời này chúng ta tạo lập, xây dựng mà nếu lỡ phải chết giữa chừng thì khi ra đi tâm tiếc nuối dấy khởi, ta phải chịu tái sinh chỗ thấp kém, có khi phải đọa làm chó trở lại để giữ của vì ngu si mê muội.
 
Thế cho nên, Phật nói si mê là gốc của luân hồi sống chết không có ngày cùng, chúng sanh phải thăng lên lộn xuống mãi trong ba cõi sáu đường gốc cũng từ si mê mà ra. Ta đam mê sự sống, danh vọng, sắc đẹp, quyền lực, tiền bạc, của cải. Chúng ta thường sống với những ảo tưởng, nhớ nghĩ về quá khứ hoặc mơ mộng đến tương lai. Chính đó là gốc rễ của si mê.
 
Chúng ta phải thường xuyên quán chiếu thân, thọ, tâm, pháp mới có thể biết rõ mạng sống vô thường, thân này không thật có. Biết thân này không có giá trị chân thật thì chúng ta không còn tham ái, luyến mến nó nữa. Được như vậy chúng ta sẽ biết cách làm chủ bản thân.
 
Tuy nhiên, chúng sinh cang cường với bản tánh tham lam khó dời đổi, mới tu có vài ba năm hoặc hai ba chục năm mà cứ đòi thành Phật? Chính khi đó, nghe ai nói tu ba tháng đến sáu tháng thành Phật liền thì ham quá, mới bán hết nhà cửa mà dâng cúng cho người đó. Tu một thời gian không có kết quả mới té ngửa ra tại mình si mê, đần độn nên đã “giao trứng cho ác” mà không hay, không biết.
 
Lời Phật dạy từ trước đến nay chính yếu tu là biết cách gạn lọc nội tâm; giống như một lu nước đục muốn nước được trong phải có thời gian gạn lọc, tuy thấy nước trong nhưng cặn bã vẫn còn dưới đáy lu, gặp duyên thì nước sẽ đục trở lại. Phiền não tham-sân-si là cặn cáu, tuy có định tĩnh đôi chút nhưng vẫn còn mờ tối. Muốn nước thật sự được trong ta phải đổ nước trong sang lu khác, khi cặn bả hết thì có quậy nước vẫn trong. Tâm ta trong sáng thì mọi thứ phiền não, khổ đau cũng tan hoà vào hư không.
Một người tham tiền đam mê cờ bạc, nên đến khi thua hết tiền của mà cũng không ăn năn hối hận từ bỏ. Do si mê chấp ngã nên cái ta của mình cứ thế loanh quanh suốt ngày chỉ sống với sự thương yêu ghét bỏ mà ưa người này, ghét người kia, thích vật này, ghét việc nọ. Không biết đạo đức, nhân quả, không biết suy xét điều hay lẽ phải, chỉ thích chạy theo âm thanh, sắc tướng, mùi vị, cảm xúc mà thôi. 
Có một người vì si mê tham muốn quá đáng, nên giữa lúc ban ngày đông người, lại vào tiệm giựt vàng. Khi bị mọi người bắt được giải lên cơ quan điều tra xét hỏi: "Bộ anh không thấy mọi người ở chung quanh và không sợ tù tội hay sao"? Anh ta trả lời rằng: "Lúc đó tôi chỉ thấy có vàng thôi, nên làm cho tôi mờ mắt mà sinh lòng tham muốn! Chúng ta nên biết, trong lúc tham lam mà có sự si mê kèm theo thì rất nguy hiểm!
 
TÂM CỐNG CAO NGÃ MẠN LÀM MỌI NGƯỜI CHÁN GHÉT
        
Ngã mạn cống cao. Nói theo lối thông thường có hơi thô một chút là "phách lối" lấn lướt, hiếp đáp người. Vì ỷ tiền tài, tài năng và quyền thế của mình mà khing rẻ người, chẳng kính người già cả, không kể người tu hành chân chính. Vì lòng ngã mạn, cho mình hơn hết, không kính phục người, nên bị tổn đức. Vì thế mà phước lành tổn giảm, tội lỗi càng thêm, nên phải chịu khổ đau sinh tử luân hồi, không có ngày thôi dứt.
Người có thói quen ngã mạn lúc nào cũng thích so sánh thấy mình hơn người khác rồi tự cho mình là hay, giỏi, tài ba hơn kẻ khác, đó gọi là "mạn".  Ỷ mình giàu có sang trọng hơn người, ta đây hãnh diện có bằng cấp, địa vị cao mà kiêu căng tự đắc, khinh chê kẻ dưới, lấn át người trên, coi thường người đức hạnh, chà đạp kẻ nghèo hèn thấp kém.
Chúng ta vì ngã mạn nên không lắng nghe lời góp ý chân thành của người khác, không chịu học hỏi thêm, nên dễ dàng làm điều sai quấy, do đó tội lỗi càng tăng thêm. Để phân tích tỉ mỉ chúng ta tạm thời chia ra làm 7 phần: 
Mạn: có tâm khinh thường đối với những người thua mình về học thức, địa vị, gia tài sự nghiệp. Trên thực tế thì họ có thể thua mình thật, nhưng chỉ thua trên một khía cạnh nào đó thôi, chứ không phải thua hết, chúng ta không phải vì thế mà mình lên giọng khinh thường coi rẽ họ.
Quá mạn: Đối với người có học thức, tài sản, địa vị, bằng cấp ngang mình thì lại cho là mình hơn người đó về mọi mặt.
Mạn quá mạn: Đối với người thực sự hơn mình về mọi mặt mà mình lúc nào cũng cho là mình hơn họ.
Ngã mạn: Chúng ta sai lầm cho rằng sắc thọ tưởng hành thức là thật ngã, tức là thân tâm mà khởi tâm cống cao ngã mạn. Chúng ta cho rằng tất cả mọi người không bằng mình, mình là trung tâm của vũ trụ, mình hơn hết. Cái gì của mình cũng tốt đẹp hơn của người khác.
Tăng thượng mạn: Chúng ta chưa chứng đạo mà tuyên bố là mình đã chứng đạo để được mọi người ngưỡng mộ, kính trọng cúng dường. Có những người vi tế hơn ngoài miệng tuy không chính thức tuyên bố là mình tu chứng, nhưng nói úp nói mở khiến nhiều người khác lầm tưởng là mình đã chứng quả này quả nọ, đây cũng thuộc loại tăng thượng mạn.
Ty liệt mạn: Đối với người, mình thua họ nhiều về mọi mặt mà mình cho rằng là thua ít, thậm chí còn tuyên bố mình không thua gì hết.
Tà mạn: Mình không có hiểu biết chân chính, mình không có đạo đức, mình không có tấm lòng rộng lớn mà hay tự xưng là mình có đức độ, từ bi, hiểu biết, thí dụ như xưng mình là vô thượng sư, thánh sư, chân sư, đạo sư, giáo chủ, và Phật sống v.v...
 Tóm lại, tâm lý ngã mạn là chúng ta luôn so sánh, so đo xem mình hơn hay thua kẻ khác, nếu thấy mình thực sự hơn thì thích thú khoe khoang, nếu thua thì không nhận là mình thua mà cứ gân cổ lên nói mình bằng hoặc hơn thì mới chịu. Thí dụ như thấy người khác viết được 40 cuốn sách, ta đây chỉ viết cho được khoảng 10 cuốn rồi tự cho rằng mình đâu có thua gì, đây cũng là ngã mạn mặc dù viết sách về Phật pháp.
Tâm ngã mạn khinh người là con đẻ của sự chấp ngã mà ra. Tâm sở phiền não nầy, cũng rất khó đoạn trừ vì ai cũng tôn vinh cái ngã của mình. Nghiệp dụng của nó là luôn coi trọng mình mà khinh khi coi thường kẻ khác. Khi chúng ta làm được một công việc nào đó thành công, thì chúng ta có thể lên mặt hách dịch ra vẽ mình ta đây. Chính vì vậy mà mọi người sẽ xa lánh ghét bỏ ta, chẳng ai thích gần gũi. Đó là hậu quả của sự cống cao ngã mạn gây ra.
Chúng ta phải làm sao diệt trừ được tâm cống cao ngã mạn? Như trên chúng tôi đã nói, ngã mạn là một trong sáu món căn bản phiền não, nên tập nhân gốc rễ của nó rất sâu dầy, không phải ai cũng có thể dễ dàng diệt trừ nó được.

Muốn đoạn trừ nó, chỉ có cách là chúng ta phải gắng sức gia công nỗ lực tu trì, mới có thể lần hồi trừ được. Điều quan yếu là chúng ta phải hằng tỉnh giác, quán chiếu sâu vào bản chất của nó, để thấy rằng tự tánh của nó là không. Chỉ khi nào đối cảnh xúc duyên, trái ý nghịch lòng, thì nó mới phát khởi.
Biện pháp duy nhất là chúng ta muốn chuyển hóa tâm cống cao ngã mạn, thì chúng ta phải khiêm tốn sống vui vẻ hài hòa với mọi người. Vậy khiêm tốn là gì?
Người có lòng khiêm tốn là người có tư cách đứng đắn, biết nhìn xa trông rộng. Người khiêm tốn là người nhã nhặn, không tự cao tự đại, luôn hướng thiện và thấp mình học hỏi những điều hay lẽ phải, không đề cao cá nhân mình với người khác....người khiêm tốn luôn cho mình là yếu kém nên lúc nào cũng cần phải học hỏi thêm.
 
Tại sao chúng ta phải khiêm tốn? Cuộc sống là một cuộc chiến đấu không ngừng nghỉ, nếu chúng ta dừng lại với thành công ngày hôm nay tức là chúng ta chấp nhận thất bại ở tương lai. Trong khiêm tốn chúng ta lúc nào cũng tự cho mình là kém và cần phải học hỏi, tham khảo nhiều hơn trong mọi trường hợp.
 
Người khiêm tốn luôn có nếp sống đơn giản nên dễ hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Cuộc sống giản dị của người khiêm tốn được thể hiện qua cách ăn nói cẩn thận, không khoa trương, lời nói ngắn gọn dễ hiểu. Con người có tính giản dị biết cách ứng xử, gần gũi chan hòa yêu thương cùng với mọi người.
 
Khi chúng ta đã có nếp sống khiêm tốn giản dị nên lúc nào cũng biết coi trọng người thực tài, không bao giờ coi thường thế hệ trẻ, biết phát huy nêu cao tinh thần tư duy sáng tạo, để ta có thể đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội.
  Có rất nhiều hình thức ngã mạn rất vi tế, người tu của chúng ta cần phải đề cao cảnh giác và thường xuyên vun bồi hạnh khiêm tốn để dần hồi chuyển hóa tâm cống cao ngã mạn.
TÂM GANH GHÉT TẬT ĐỐ LÀM HẠI CHÍNH MÌNH
 
  Khi gặp người thua kém hơn mình thì ta khinh khi coi thường họ, nhưng khi gặp người thực sự tài giỏi, hơn ta về mọi mặt thì ta lại ganh ghét, tức tối, bực bội, tìm đủ mọi cách để nói xấu, chê bai, chỉ trích, mạ nhục người đó. Thấy người tài giỏi, danh tiếng tốt, đạo cao đức trọng, mình sanh lòng đố kỵ ghen ghét. Thấy người vinh hiển, mình lấy làm bực tức khó chịu, trong lòng xốn xang, lộ ra cử chỉ không bằng lòng rồi kiếm chuyện nói xấu, làm cho giảm uy tín người đó.
 
Trong xã hội hiện nay, sự cạnh tranh phát triển về mọi mặt ngày càng gay gắt, mối quan hệ giữa con người với nhau ngày càng phức tạp hơn bởi tâm lý ganh ghét, tật đố ngày càng nhiều. Ganh ghét, tật đố là gì? Do đâu mà có?
 
Sự "ganh ghét" xuất phát từ lòng ích kỷ, bởi sự tham lam của con người. Có thể nói hầu gần hết con người trên thế gian này đều mắc chứng bệnh ganh ghét, tật đố ngoại trừ các vị đại Bồ tát. Sự “ganh ghét, tật đố” khác với “ganh đua”. Nói tới "ganh đua" thì nó mang tinh thần tích cực hơn như chúng ta cùng nhau ganh đua để phát triển tài năng đóng góp lợi ích cho xã hội. Lòng ganh ghét thể hiện sự ích kỷ, nhỏ nhoi của con người bởi quan niệm đối nghịch nhau, luôn luôn đối đầu và để hạ uy tín nhau.
 
Trước hết sự ganh ghét, đố kỵ phá hoại mối quan hệ giữa con người với nhau, anh chị em sống vui vẻ thuận thảo với nhau trước đây, bổng chốc đổ vỡ vì sự ganh ghét, do muốn mình giàu có hơn người. Lòng ganh đua để phát triển tài năng, sự ganh ghét, đố kỵ làm cản trở tiến trình phát triển tài năng của con người. Ngoài ra lòng ganh tỵ, có ảnh hưởng rất to lớn đến sức khỏe thể chất và tâm thần của con người.
 
Người có tính ganh ghét, đố kỵ bao giờ cũng căng thẳng về tinh thần và tổn hại về sức khỏe. Họ luôn bị một chứng bệnh khổ sở “stress” hành hạ. Trong một tập thể chỉ cần phảng phất chút lòng ganh ghét, đố kỵ là nội bộ lủng củng, mất đoàn kết, mọi người không sao sống thân thiện, thoải mái, chân tình với nhau được thì nhân tài sẽ không có môi trường thuận lợi để phát huy tác dụng.
 
Ganh ghét và đố kỵ hầu như thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực và mọi mặt trong cuộc sống. Dễ nhận thấy nhất là khi ai đó có thành tích, đia vị, vinh dự, chuyên môn, bằng cấp, của cải, nhân duyên, gia đình hạnh phúc, thành đạt là ta nảy sinh ganh ghét, đố kỵ… Có người thể hiện lòng ganh ghét, đố kỵ ra ngoài, nhưng có người lại “chôn kín” ở trong lòng. Nhưng dù bất cứ hình thức nào, lòng ganh ghét, đố kỵ đều ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống và công việc. Phật dạy: “Khổ tâm lớn nhất của đời người là sự ganh ghét, đố kỵ. Người có tâm ganh ghét, tật đố sẽ khổ sở dai dẵng trong lòng.
 
Ganh ghét, tật đố là một trong những tâm phiền não được phát sinh bởi lòng ích kỷ. Từ tham mà sinh ra sân rồi dẫn đến làm phát triển tâm đố kỵ. Tật đố khác với sự ích kỷ nhưng lại bao hàm sự so sánh, hiềm hận và ganh tỵ. Vì sự ganh ghét trong việc thua kém hơn người khác nên ta tỏ ra thái độ đố kỵ, hiềm hận, thậm chí chúng ta còn mong muốn họ gặp thất bại trong cuộc sống.
 
Sự giàu sang của kẻ khác có thể khiến cho ta bực tức, khó chịu. Thấy bạn thành công trong sự nghiệp, ta lại chê bai, chỉ trích đủ thứ. Trong câu chuyện ngụ ngôn ăn khế trả vàng, người anh thì tranh giành hết những tài sản về phía mình, để lại cho người em những phương tiện kiếm sống khắc khổ và chẳng hề muốn người em thành tựu một điều gì.
 
Vì sự xan tham ích kỷ, cho nên con người phát sinh lòng tật đố không muốn ai được bằng mình và hơn mình. Ta ích kỷ vì không muốn phân chia tài sản, ta tật đố vì không muốn ai hơn mình.
 
Có năm loại tật đố: Thứ nhất là tật đố về trú xứ, như ganh tỵ nhau về nhà cửa, chỗ ở, trường học, chùa chiền…. Khi tâm tật đố nổi lên thì có sự phân biệt. Còn phân biệt hơn thua lâu ngày dẫn đến thù hằn ghét bỏ, gây khổ đau cho nhau. Nhà cửa thì muốn ở nhà cao cửa rộng tiên nghi vật chất đầy đủ, khi thấy ai hơn mình thì ta không hài lòng, cảm thấy ray rứt khó chịu vì sự hơn thua.  
    
Nhiều anh chị em tranh giành nhà cửa đất đai dẫn đến thưa kiện mà cuối cùng cả thảy đều thất bại, làm khổ cha mẹ, anh em chia lìa, gia đình người thân trở thành kẻ thù. Cuộc đời là lẽ sống để chúng ta yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau không hết, huống hồ là tạo ra oan gia trái chủ. Chùa chiền tự viện thì tật đố về công việc, về giáo phẩm, về quan điểm sống của mỗi chùa có khác nhau… Chúng ta đi tu mục đích là để giác ngộ, giải thoát trên cầu thành Phật dưới cứu độ chúng sinh, tu là để chuyển nghiệp xấu thành tốt.
 
Thứ hai, tật đố về quyến thuộc liên quan đến gia đình, người thân, học trò, bạn bè và đồng nghiệp. Khi tâm ganh ghét, tật đố phát sinh sẽ gây ra sự xào xáo, bất hòa, không đoàn kết hổ trợ giúp đỡ lẫn nhau làm ảnh hưởng đến gia đình người thân và cộng đồng xã hội. Trong phạm vi gia đình, việc thương con, cha mẹ cũng khó mà thương đồng đều, sẽ có tình trạng thương đứa này nhiều thương đứa kia ít, đó là lẽ đương nhiên vì ảnh hưởng nhân duyên nghiệp báo của mỗi người mỗi khác, nên hay xãy ra chuyện so bì rồi dẫn đến ganh tị.
 
Học trò giỏi thì được thầy cô giáo quan tâm nhiều hơn, trong khi học trò kém thì sự giáo dục có hơi nghiêm khắc hơn, sẽ dễ tạo ra bất hòa. Tu sĩ chỉ muốn nhiều Phật tử tôn kính cúng dường cho riêng mình, thăm viếng, tham quan hoặc tu học chùa mình, thực tập pháp môn của mình, đọc sách kinh của mình dịch giảng giải, nghe pháp thoại của mình thì hết sức nguy hiểm, vô tình tạo nên mối bất hòa lớn giữa các tông phái.
 
Người tu sĩ cần phải ý thức trong việc thắp sáng lại ngọn đuốc của chính mình, làm cho nội tâm được thanh tịnh sáng suốt và tránh xa sự lợi dưỡng, cung kính để không bị kẹt vào vật phẩm cúng dường, chùa chiền, học trò, kinh sách, pháp môn thì mới có thể đi đến mục đích cuối cùng, là trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh.
 
Tật đố trong quyến thuộc nguy hiểm đến nỗi, con người ta có thể chửi mắng, đánh đập dẫn đến sự giết hại nhiều hơn là bên ngoài xã hội. Một người cha quăng mấy đứa con xuống biển, chỉ vì hiềm khích với vợ. Vợ giết chồng chỉ vì không kiềm chế được cơn giận. Tâm sân, si sinh ra tật đố và hậu quả của tật đố là hủy diệt lẫn nhau không thương tiếc.
 
Thứ ba là tật đố về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Sự không mong muốn những người khác thọ hưởng các nhu cầu tiện nghi vật chất lẫn tinh thần, khiến người ta điên đảo bực tức khó chịu và tỏ thái độ không hài lòng. Chúng ta chỉ muốn mình là người duy nhất được quyền cao chức trọng, giàu có thịnh vượng được an hưởng thái bình, được khen tặng, nếu thấy người khác hơn mình thì trong lòng không vui, chỉ muốn trù ẻo cho người kia mau chết sớm hoặc bị tai nạn. Đối với người tu, sự ganh ghét trong việc được cúng dường vật phẩm, tiền bạc hay được nhiều người ái mộ, sẽ dễ dàng làm cho chúng ta tự mãn, khinh khi coi thường những người khác.
 
Thứ tư là tật đố về danh vọng và sắc đẹp. Tật đố về danh vọng là không muốn ai có danh tiếng hay thành tựu hơn mình vì thấy ta là trung tâm vũ trụ, là tài giỏi hơn người. Những người có tâm như thế, chỉ muốn mình độc quyền trong thiên hạ, mình thống lĩnh cả thế giới và không chấp nhận ai hơn mình mà trên thực tế mình đã dỡ hơn họ. Ai có những tâm niệm đó chắc chắn sẽ lo lắng, sợ hãi và rất mệt mỏi, vì phải tìm đủ mọi cách để triệt hạ người khác. Tâm địa hẹp hòi như vậy chết rồi sẽ bị tái sinh làm người có hình dáng xấu xí, bị khuyết tật, dị dạng hoặc kém sức khỏe.
 
Người nam thường không thích người nam khác đẹp hơn mình. Người nữ thường không thích người nữ khác đẹp hơn mình. Nếu chúng ta thường xuyên quán chiếu, sẽ thấy rằng sỡ dĩ người ta đẹp là vì đã gieo nhân duyên lành  nhiều kiếp mới có sắc đẹp như vậy, nhờ tâm hoan hỷ vui vẻ không ganh ghét tật đố với ai. Tuy nhiên, khi chúng ta có sắc đẹp mà còn biết tu hạnh buông xả nữa thì mau thành tựu viên mãn chí nguyện của mình. Làm đẹp thích đẹp là sở thích của số đông phụ nữ, nên họ được gọi là phái đẹp, đẹp mà có đức hạnh nữa như bà Tỳ Xá Khư ngày xưa, được mọi người tặng cho danh hiệu phước huệ vẹn toàn.
 
Thứ năm là tật đố về lời Phật dạy liên quan đến các pháp môn, phương pháp hành trì, công phu tu tập cho tất cả mọi người. Phật ra đời là tùy bệnh cho thuốc, vì chúng sinh có nhiều bệnh phiền não, nên Phật đưa ra nhiều phương thuốc để trị bệnh, ai hợp với thuốc nào thì mau lành bệnh.
 
Chúng ta tu tập là để tự độ mình và cứu độ tất cả chúng sinh, chúng ta chia sẻ hướng dẫn kinh nghiệm tu tập cho mọi người, biết được điều hay lẽ phải và cuối cùng là để được giác ngộ, giải thoát. Chúng ta chỉ hướng dẫn một cách nhiệt tình đúng theo tâm tư nguyện vọng của mọi người, ai cần pháp gì thì mình giúp pháp đó mà không kể công hay ganh tỵ với người khác.
 
Việc giáo hóa hướng dẫn mọi người khi có nhân duyên, trong kinh nói rõ cho dù người bệnh nặng hay bệnh nhẹ, chúng ta cũng đều phải ra tay chữa trị không phân biệt. Người Phật tử thường hay phân biệt khi cúng dường hoặc giúp đỡ ai, họ so đo tính toán coi trọng thầy này khinh thầy kia và chỉ nghĩ rằng thầy mình là số một không ai hơn. Và người Phật tử phần đông thì còn dính mắc nhiều hơn vào sự nghiệp tài sản, tình cảm luyến ái, cùng với những tiện nghi vật chất khác.
 
Do đó để chuyển hóa được tâm ganh ghét, tật đố chúng ta hảy nên hoan hỷ vui theo việc làm tốt của người khác. Người biết bố thí cúng dường, giúp đỡ sẻ chia thì sẽ được phước báo giàu sang trong hiện tại và mai sau. Người tùy hỷ việc làm thiện của người khác, sẽ không bị tâm ganh ghét làm tổn hại. Từ ganh ghét, tật đố dẫn đến oán giận, thù hằn rồi tìm cách giết hại lẫn nhau.
 
TÂM HOÀI NGHI SẼ ĐƯA TA VÀO NGÕ CỤT
 
Nghi: là nghi ngờ. Đối với đạo lý chân chính, ta lại nghi ngờ không tin. Những phương pháp tu để được giác ngộ, giải thoát và các việc làm có giá trị thiện lành tốt đẹp, ta lại do dự chẳng muốn làm. Do đó nghi ngờ làm chướng ngại lòng tin, cản trở việc thiện ích giúp người, cứu vật.
 
Nghi có ba: 1-Nghi mình. 2-Nghi người. 3- Nghi pháp.
 
1-Nghi mình. Phật dạy: "Người quyết chí tu hành sẽ được giác ngộ, giải thoát và thành Phật", chúng ta tự nghi ngờ không biết mình có tu được hay không? Vì lòng nghi ngờ, do dự ấy, nên chúng ta phân vân, lưỡng lự không chịu tu.
 
Do nghi mình là người tầm thường không có khả năng, còn các bậc Thánh hiền mới có đủ năng lực tu tập đạo giác ngộ, giải thoát nên chúng ta không chịu cố gắng nỗ lực tu hành. Chính vì vậy, chúng ta bị chịu khổ báo trong 3 cõi 6 đường không có ngày thôi dứt.
 
Trong kinh, Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính bình đẳng như sau, ai cũng có khả năng thành Phật. Vì sao? Phật cũng là con người như bao người khác, ta cũng là con người, nếu siêng năng tu hành thì cũng sẽ thành Phật trong tương lai.
 
2- Nghi người có hai: Một là nghi ngờ người khác làm hại mình. Hai là chúng ta nghi người dạy mình không biết có đúng không. Như có người dạy: "Làm lành được hưởng phước báo tốt đẹp, làm ác sẽ chịu quả báo khổ đau". Chúng ta lại nghi ngờ: Không biết người ấy nói có đúng hay không? Bởi nghi ngờ nên chúng ta bán tín, bán nghi nên không ra sức thực hành.
 
Để minh họa về việc nghi ngờ người khác chúng tôi sẽ kể cho mọi người nghe một câu chuyện. Một thương gia có hai người con trai sinh đôi. Hai chàng trai đã lớn và cùng phụ làm việc với cửa hàng của cha mình. Trong một tai nạn người cha đó qua đời, hai anh em cùng nhau trông coi cửa hàng đó.
 
Một hôm người em đã để tờ giấy bạc đó trên máy đếm tiền rồi đi ra ngoài với khách hàng. Khi anh ta quay lại, không thấy tờ giấy bạc.
 
Ngay khi đó người em liền hỏi người anh: Hồi nãy giờ anh có thấy tờ giấy bạc 100 ngàn không?
 
Người anh trả lời: Không, anh không thấy, em tìm lại đâu đó xem. Nghe anh nói vậy người em vừa tìm kiếm, vừa gạn hỏi lại: Hồi nãy giờ chỉ có em và anh, vậy tại sao tờ 100 ngàn lại không cánh mà bay. Chắc chắn anh phải thấy nó và biết nó ờ đâu chứ!
 
Lời nói của người em, vô tình buộc tội người anh mình đã lấy tờ giấy bạc đó. Kể từ hôm đó, sự căng thẳng bắt đầu tăng lên giữa hai anh em họ. Họ không thèm nói với nhau một lời nào, vì trong lòng người em đã có ý nghĩ xấu về anh mình. Cuối cùng họ quyết định không làm ăn chung với nhau nữa và ngay khi đó cửa hàng của họ được chia làm hai và mỗi bên tự kinh doanh. Sự  oán giận thù hằn giữa hai người đã kéo dài hơn 10 năm, mọi người chung quanh ai cũng đều biết rõ chuyện này, nhưng không có cách nào khuyên nhũ để hai anh em sống vui vẻ, hòa thuận với nhau.
 
Sáng hôm đó trời đẹp hẳn lên, một người đàn ông dừng xe ngay trước cửa hàng. Ông ta bước vào và hỏi người bán hàng: Dạ, xin lỗi anh đã ở đây bao lâu rồi? Người bán hàng trả lời: Tôi đã có mặt ở đây từ khi cửa hàng được thành lập. Ngay khi đó vị khách bỗng nhiên bùi ngùi xúc động nói rằng: Anh hãy tha thứ cho tôi, hơn 10 năm trước trong một lần tình cờ đi ngang đây, vì đói quá nên tôi đã lấy tờ giấy bạc 100 ngàn trên máy tính tiền, tôi đã bỏ vào túi mình rồi đi ra ngoài. Chính nhờ vậy mà tôi qua được đói khát, trong nhiều năm qua tôi không thể quên điều đó. Tôi biết nó không phải là món tiền lớn, nhưng nó làm cho tôi rất ray rức khó chịu, nên tôi phải quay lại đây để nói lên sự thật này, mong anh hãy tha thứ lỗi lầm 10 năm về trước.
 
Người bán hàng nghe nói vậy vừa mừng, vừa buồn, vừa tủi nên nước mắt đã lăn tròn trên đôi má, khi nhớ lại câu chuyện hơn 10 năm về trước. Người bán hàng đề nghị người đàn ông: Ông vui lòng bước sang cửa hàng bên và kể lại chuyện này cho người chủ cửa hàng đó được không? Vì câu chuyện này mà hai anh em chúng tôi phải trở nên người xa lạ hơn 10 năm nay.
 
Người em sau khi đã biết rõ nguyên nhân của hơn 10 năm về trước, nên đã đến bên người anh ôm nhau khóc ngay trước cửa hàng. Sau hơn 10 năm, rạn nứt giữa họ đã được hàn gắn trở lại. Kể từ hôm đó bức tường thù hận chia cắt hai anh em họ đã được phá bỏ, hai anh em vui vẻ hợp tác trở lại.
 
Trong cuộc sống của chúng ta có những điều nhỏ nhặt vẫn thường xảy ra và vô tình làm cho con người ta hiểu lầm với nhau, những lời nói vội vàng không suy nghĩ, những lời lẽ chỉ trích gay gắt, rồi cuối cùng buộc tội cho nhau dẫn đến oán giận thù hằn. Khi đã trở thành kẻ thù vì một chút hiểu lầm nào đó, con người ta sẽ tự đánh mất đi tình thương yêu chân thật, bởi ta là thật ngã, là ta, là của ta.
 
Tại sao chúng ta không tự quay lại chính mình để nhìn thấy rõ những lỗi lầm bên trong của chúng ta, là tham lam, là sân hận, là si mê, là cống cao ngã mạn và sự nghi ngờ. Chúng ta có thể cảm thông và tha thứ cho nhau khi ta hằng tỉnh giác trong ý nghĩ, lời nói và hành động có cân nhắc, thì làm gì có chuyện nghi ngờ lẫn nhau.
 
Nghi có nghĩa là nghi ngờ, nghi ngờ là một trong năm phiền não của tâm có thể làm tổn hại cho con người. Đó là: Tham, sân, si, mạn, nghi. Người em nghi ngờ người anh lấy tiền, nghi người anh tham lam, nghi ngờ người anh gian dối. Chính chỗ nghi này là nguyên nhân phát sinh ra mọi sự chia rẽ, li gián giữa người này với người kia hoặc nhiều người.
 
Ở đâu có nghi ngờ, ở đó mọi người không sống hòa hợp với nhau; ở đâu có nghi ngờ, ở đó tạo ra sự ly gián gây hiểu lầm nhau; ở đâu có nghi ngờ, ở đó dẫn đến sự ganh ghét nói xấu lẫn nhau tạo ra nỗi khổ niềm đau; ở đâu có nghi ngờ, ở đó không có tình thương chân thật.
 
Cho nên lòng nghi ngờ rất nguy hại, nó có thể đánh mất hết nhân cách đạo đức của con người khi không tin tưởng nhau. Khi chúng ta nghi ngờ người khác, thì tình thương chân thật sẽ bị đánh mất, từ đó con người sẽ trở nên oán giận nhau vì không có sự cảm thông và tha thứ.
 
Người Phật tử chân chính là phải biết vượt ra ngoài tâm nghi, nếu tâm nghi còn thì sự hợp tác giữa người này với người kia hoặc nhiều người khác sẽ bị đổ vỡ.
 
Chỉ có một tờ giấy bạc 100 ngàn, người em vì sự nghi ngờ anh mình đánh cắp đã làm cho hai người trở thành kẻ thù. Tiền bạc là vật vô tri nó có được là do con người tạo ra, người em vì si mê, rồi tham lam dẫn đến tức giận mà khinh thường anh mình do cố chấp…..
 
Chỉ vì chút nghi ngờ mà hai anh em phải chia lìa hơn 10 năm trời, giống như là kẻ thù không đội trời chung. Trong tâm mỗi người chúng ta đều có năm món triền cái, là năm cái màn ngăn che, nếu một trong năm cái màn ngăn che này khởi lên thì kể từ đó tội lỗi sẽ phát sinh. Năm thứ đó là tham lam, sân giận, si mê, cống cao ngã mạn và nghi ngờ.
 
Người đàn ông kia, trong khi đói đã lấy cắp số tiền của người khác hơn 10 năm mà vẫn không quên trở lại trả số tiền cho người chủ của nó. Người này không phải là kẻ xấu ác, chẳng qua vì hoàn cảnh khó khăn mà thôi.
 
Tất cả sự việc xảy ra trên đây, đều do nhân quả chiêu cảm khiến cho hai anh em nhà kia phải sống chia lìa hơn 10 năm đau khổ, ôm một mối oan ức trong lòng. Vì phải trả nghiệp nhân đời trước, do hai anh em người này đã tạo kế ly gián làm người khác khổ đau.
 
   Nếu không có người khách lạ này xuất hiện thì mối oan gia trái chủ của hai anh em nhà kia chỉ còn nước chết đem theo xuống suối vàng. Qua câu chuyện trên mọi người hãy nên cẩn thận lưu ý trong từng suy nghĩ, lời nói để khi ta phát ngôn ra không làm tổn hại người khác.
 
    Kế đến là phần hai nghi lời dạy của người có đúng không? Do chúng ta không tin tưởng người đó nên chúng ta nghi ngờ, từ chỗ hoài nghi nên chúng ta đánh mất cơ hội để học đạo. Đã không học thì không hiểu, không biết do đó suốt ngày sống trong đau khổ lầm mê.
  
3- Nghi pháp; như nghe lời Phật dạy: "Người quyết tâm tu hành phước huệ song tu hành Bồ tát đạo viên mãn thì thành Phật. Nhưng ta lại nghi ngờ không biết phương pháp ấy kết quả có đúng như lời Phật dạy hay không? Do nghi ngờ như vậy nên họ mất lòng tin mà xao lãng việc tu tập của mình.
 
Từ sự nghi ngờ dẫn đến do dự, phân vân con đường mình đã chọn có đúng không? Thiếu quyết tâm và tin tưởng vào lời Phật dạy, khiến cho ta hoài nghi thất vọng, bởi không hiểu rõ ràng chính xác phương pháp tu của mình có đạt được kết quả viên mãn hay không?
 
Tâm hoài nghi là biểu hiện của sự phân vân do không hiểu biết, không chắc chắn, không rõ ràng, bởi si mê chấp ngã. Có những sự thật chúng ta còn không tin do nghi ngờ tính xác thực của nó. Khi chúng ta hoài nghi một điều gì làm cho mình lúng túng, giống như người đứng ở ngã tư đường không biết chọn đường nào vì ta cứ phân vân, do dự mãi.
 
Sự hoài nghi của chúng ta thường đi kèm với thói quen xấu. Do không tin nhân quả nên chúng ta phỉ báng lời Phật dạy là phi lý không có lẽ thực, ta lại còn hô hào người khác đồng hành với mình.
 
Nói tóm lại, vì lòng nghi ngờ không tin sâu nhân quả, không tin lời Phật dạy có kết quả thiết thực nên ta lơ là tu cho có cầm chừng. Những người có tánh đa nghi như thế, đối với gia đình, người thân họ chẳng tin tưởng một người nào hết, đối với bạn bè, họ không thấy ai là người đáng tin cậy. Đối với Phật pháp họ cho rằng không có lợi ích thật sự, nên họ đánh mất niềm tin mà bỏ qua cơ hội tốt học đạo làm người.
 
  TÂM GIAN DỐI HAY CHE DẤU TỘI LỖI CỦA MÌNH
 
Đã làm người ai cũng có thể phạm phải lỗi lầm, nếu chúng ta can đảm đến trước bàn Phật hay gặp người có đức hạnh thành tâm phát lồ sám hối thì tội lỗi sẽ nhanh chóng được tiêu trừ. Chúng ta là phàm phu do vô minh si ám che lấp nhiều đời, là người đang thực tập hạnh buông xả theo lời Phật dạy, không sao tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc, chúng ta biết có lỗi nên thành tâm sám hối, không dám tái phạm, khiến tội lỗi được tiêu trừ cho đến khi không còn nữa. Sám hối là phương pháp sách tiến mạnh mẽ nhất, đối với người Phật tử chân chính, nhờ vậy ta càng ngày ít vấp phải lỗi lầm hơn.
 
Sám hối có nghĩa là ăn năn hối cải. Những tội lỗi đã làm, chúng ta biết hổ thẹn, ăn năn không dám tái phạm nữa. Nhờ sám hối chúng ta không phạm tội cũ, không gây lỗi mới, là nhờ biết hổ thẹn và xấu hổ. Khi chúng ta biết hổ thẹn và cầu tiến, nên ta mới sám hối, sau khi sám hối dứt khoát chừa bỏ không lập lại lỗi lầm xưa.
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm chúng ta có thể đổ thừa cho người khác, ai cũng cho rằng bản thân mình đúng, thật ra người không biết nhận lỗi chính là muốn qua mặt người khác. Chúng ta luôn đổ lỗi cho người khác để họ phải chịu mang tiếng.
Bất kỳ một sai lầm nào cũng có trách nhiệm của chúng ta và không ai khác chính chúng ta biết rõ mình đang lừa dối người, tại sao chúng ta không dám chịu trách nhiệm về những lỗi lầm đó. Đổ lỗi cho người khác là một thói quen xấu làm hại người khác, dẫn đến sự đổ vỡ gây ra oán giận thù hằn.
Vậy chúng ta hãy nên can đảm đừng đổ lỗi cho ai vì mình đã phạm sai lầm mình phải tự chịu. Chúng ta hãy học cách nhận lỗi về phía mình, hãy nhìn nhận lại chính bản thân đã làm sai, ta đừng bao giờ đổ lỗi cho những người xung quanh, đó là hành động của kẻ tiểu nhân người hèn nhát.
Khi chúng ta biết nhìn nhận lỗi về phía mình, chúng ta sẽ nhìn thấy được chính mình đã làm đúng hay làm sai trong thời gian qua. Rất nhiều người có thói quen xấu thà chết đem theo chứ không chịu nhận lỗi dù biết mình sai. Vì họ sĩ diện, vì lòng tự trọng của họ quá cao?
Sám hối trong nhà Phật có ý nghĩa tương tợ là cách xin lỗi của người thế gian. Người thế gian lỡ phạm lầm lỗi với ai khiến họ phiền muộn, biết mình có lỗi chúng ta hãy gan dạ đến xin lỗi, nếu người rộng lượng sẽ tha thứ, hoặc cũng giảm bớt buồn phiền, nếu gặp người quá cố chấp. Biết ăn năn lỗi cũ, không gây tạo tội mới, thì tội lỗi sẽ được tiêu trừ theo thời gian.
 
  Chúng ta khi làm điều gì sai quấy, không chịu phát-lồ sám hối, vì sợ người ta biết rồi xấu hổ, mất danh tiếng và quyền lợi của mình, nên cố tình che giấu không ngờ lại hại thêm mình. Chúng ta nên nhớ rằng ai làm người thì làm sao hoàn toàn không có lỗi lầm, người có lỗi mà biết xin lỗi hoặc phát lồ sám hối là một điều tốt, từ đó về sau mình không dám làm sai trái nữa.
 
  Cũng như chiếc áo dơ chúng ta giặt, thì áo sẽ mới sạch trở lại, khi chúng ta cố tình che giấu tội lỗi thì tội lỗi ngày càng thêm lớn và trong lòng thường ăn năn ray rức buồn bã không yên lòng. Chính vì thế, khi chúng ta có lỗi lầm không được che giấu mà phải phát-lồ sám hối, và phát nguyện chừa bỏ không tái phạm nữa thì tội ấy dần hồi mới được trong sạch.
 
Với lòng thành tha thiết, chúng ta đảnh lễ Phật, Bồ-tát, quì gối chí tâm phát lồ sám hối và phát nguyện chừa bỏ, cầu chư Phật, Bồ-tát chứng minh để con có đủ lòng tin vượt qua tội lỗi mà không tái phạm nữa. Lời văn sám hối rất thống thiết sau đây:
 
             Con lỡ gây ra bao lầm lỗi,
             Khi nói, khi làm, khi tư duy.
             Tham lam, hờn giận và ngu si.
             Nay con cúi đầu xin sám hối.
             Một lòng con cầu Phật chứng tri,
             Bắt đầu hôm nay nguyện làm mới,
             Nguyện sống đêm ngày trong tỉnh giác,
             Nguyện không lặp lại lỗi lầm xưa.
 
Chính khi sám hối không phải bị ai bắt buộc, với lòng chí thành tha thiết sám hối. Tuy nhiên, khi đã thành tâm sám hối đáng lẽ chúng ta không được tái phạm lỗi ấy nữa, song vì tập khí thói quen nhiều đời quá mạnh nên đã làm cho ta tái phạm trở lại. Chúng ta biết mình đã dở lắm rồi, do đó phải kiên trì, bền chí thành tâm sám hối, đừng nản lòng.
 
Sám hối với tinh thần cầu tiến biết hổ thẹn, chúng ta mạnh dạn vạch trần những lỗi lầm đã làm, để thiết tha cầu xin sám hối. Nếu người phạm tội một lòng thành khẩn thiết tha sám hối, sau khi sám hối tuyệt đối không tái phạm nữa, người này chắc chắn sẽ là người tốt trong hiện tại và mai sau.
 
Ðã có tội lỗi mà chúng ta biết ăn năn hối cải, phát nguyện xin chừa bỏ chỉ cần khi lỡ phạm tội lỗi mình phải biết hổ thẹn ăn năn thành tâm sám hối, nguyện không lập lại lỗi lầm xưa. Chúng ta tu mà không gan dạ sám hối, quả là người hèn nhát, luôn che dấu tội lỗi thì không thể nào chuyển hóa hết bệnh tham lam, sân giận và si mê. 
 
Người biết sám hối, là biết tu, ngược lại có lỗi mà không biết sám hối, dù chúng ta là người xuất gia đi nữa, cũng chưa phải là người biết tu. Sám hối với một tâm chí thành, với một lòng tha thiết, xấu hổ những lỗi đã làm, dứt khoát không tái phạm, người này sẽ từ từ hết tội lỗi.
TÂM TỪ BI HAY ĐEM LẠI HẠNH PHÚC CHO MỌI NGƯỜI
“Từ” là ban vui, “bi” là cứu khổ, “hỷ” là vui vẻ, “xả” là buông bỏ không dính mắc từ vật chất cho đến tinh thần. Ban vui, cứu khổ, vui vẻ, tha thứ, bỏ qua sự oán giận, thù hằn, cảm thông nỗi khổ, niềm đau của người khác và thương yêu bình đẳng đối với tất cả chúng sinh gọi là từ-bi-hỷ-xả. Sự vui khổ của người, xem như vui khổ của chính mình, chia vui sớt khổ trên tinh thần vô ngã, vị tha là lòng từ bi bao la rộng lớn.
Khi chúng ta giúp đỡ mọi người, ta không thấy mình là kẻ ban ơn, người là kẻ thọ ơn, và chúng ta không chấp giữ vào phương tiện vật chất đã cho, đây mới là tình thương chân thật. Nếu còn có một điểm nhỏ xíu vì mình thì đó không phải là tình thương chân thật. Tình mẹ thương con cũng chưa hẳn là hoàn toàn từ bi, vì trong đó còn mang sắc thái riêng tư, vì đó là con mình và là con của ta, nên ta sẽ giận hờn mỗi khi con không nghe lời hay ngỗ nghịch.
Chúng ta biết cảm thông sự khổ vui của mọi người nên khởi tâm thương xót, giúp đõ sẻ chia. Nếu chúng ta cứu giúp người để mong cầu được đền đáp là sự đổi chác, chứ không phải là lòng từ bi thật sự. Chúng ta thương yêu để thỏa mãn nhu cầu riêng tư là lợi dụng tình thương, không phải là lòng từ bi chân chính.
Tâm từ bi chỉ có thể xuất phát từ trái tim chân thật bằng sự thương yêu có hiểu biết. Tâm từ sẽ trở nên trống rỗng, vô nghĩa nếu nó chỉ nằm trong lời nói lý thuyết suông. Chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được nó bằng trái tim yêu thương và hiểu biết thì ta sẽ dấn thân đóng góp, phục vụ không biết mệt mỏi, nhàm chán vì lợi ích tha nhân.
Cuộc đời sẽ trở nên vô cảm, khi chúng ta sống không có tấm lòng từ-bi-hỷ-xả. Nếu chúng ta chỉ sống bằng trái tim thông thường thì con người dễ dính mắc vào tình cảm riêng tư, đó là tình trạng mà ai cũng có thế vấp phải, nhất là người nữ.
Chúng ta kính trọng yêu thương ông bà, cha mẹ, gia đình, người thân, con cái của mình không khó khăn gì nên phần đông ai cũng có thể làm được, chỉ trừ một số ít người sống trong vô cảm. Khi đức Phật nói về tâm từ bi rộng lớn, Ngài muốn nói đến một thứ tình cảm không có sự phân biệt trong trái tim. Tình cảm cao thượng đó đòi hỏi chúng ta phải biết yêu thương tất cả mọi người, như là người mẹ yêu thương đứa con duy nhất của mình.
Tất cả những ai có con sẽ biết được sự khác biệt, khi họ yêu thương con mình và con của người khác ra sao. Còn phân biệt con mình và con người khác là ta đã dính mắc vào tình cảm riêng tư. Tâm từ bộc phát cũng như khi ta thấy một em bé đang ngồi khóc, ta sẽ ân cần hỏi han, giúp đỡ vì sao phải khóc? Hoặc khi chúng ta thấy một cụ già đi đứng khó khăn không người dìu đỡ, ta liền đến giúp cụ qua đường.
Tình thương này không phải tình thương vị kỷ mà là tình thương không phân biệt màu da, dòng máu, chủng tộc. Nếu ai đã từng có con chung và con riêng với nhau thì sẽ biết rõ tình thương yêu đó có ích kỷ hay không? Vì lúc nào ta cũng thấy con mình là hơn, nên đôi khi ta phân biệt, đối xử hẹp hòi mà làm tổn thương cho nhau vì tình cảm riêng tư. Quán tình thương sẽ giúp chúng ta mở rộng tấm lòng từ bi, thương xót bình đẳng mà biết san sẽ và giúp đỡ  nhau bằng trái tim hiểu biết.
Chúng ta phải biết sống yêu thương và đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bởi tất cả chúng sinh, đều là những người có ân, có nghĩa với mình theo quy luật tương thân, tương trợ nhau mới bảo tồn mạng sống. Chúng ta thường xuyên quán sát tất cả chúng sinh là cha mẹ nhiều đời nên ta dễ dàng thông cảm và tha thứ cho nhau bằng tình người trong cuộc sống.
Chúng ta không nên từ sáng sớm cho đến chiều tối, hễ gặp việc không thích ý vừa lòng là ta lại nổi nóng lên, nhiều khi chuyện không đâu lại trút đổ lên đầu gia đình người thân. Nếu chúng ta không biết tu tập từ-bi-hỷ-xả thì gia đình sẽ dễ dàng tan nát, đổ vỡ, do ta không biết kiềm chế cơn giận.
Nóng giận là một thứ tập khí thâm căn cố đế thuộc căn bản phiền não lâu đời, có gốc rễ sâu xa trải qua từ vô lượng kiếp. Chúng ta có mặt trên cuộc đời và mãi trôi lăn trong luân hồi sinh tử, cũng bởi do ta chất chứa ba thứ độc hại phiền não tham-sân-si.
Tập khí nóng giận hầu như ai cũng có, chỉ ít hay nhiều mà thôi kể cả các bậc hiền Thánh vẫn còn, người có tu sẽ biết cách kiềm chế. Vì thế, khi gặp những điều không được hài lòng như ý, ta thường nổi nóng, giận dữ như ngọn lửa cháy phừng bốc lên cao ngọn. Dù ta có cố gắng điều phục cơn giận bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng cũng không thể trong một chốc lát dừng hẳn cơn giận được.
Đạo Phật dạy ta cần phải nhận diện và chuyển hóa cơn sân giận. Khi ta giận ai, ta có thể nói cho đối phương biết mình đang bực tức, không hài lòng về họ. Ta có nỗi khổ, niềm đau riêng của mình nên ta cần phải trình bày một cách chân tình với người đang giận. Chúng ta giận họ vì họ không làm cho mình vừa ý, hài lòng một vấn đề nào đó. Ta không nên nuôi dưỡng, chất chứa thù hận trong lòng mà sanh tâm oán ghét dài lâu. Đó không phải là thái độ khôn ngoan trong cách hành xử của người Phật tử chân chính.
Khi chúng ta đối diện với những lỗi lầm hay sai sót của người khác, ta có khuynh hướng hay chỉ trích, giận dữ, hoặc đem ra bêu xấu trước mặt mọi người rồi làm lớn chuyện ra. Khi bình tĩnh lại ta mới thấy ăn năn, hối tiếc, nhưng đã quá muộn màng. 
Chúng ta phải biết rằng, khi người nào có thái độ và hành động làm cho mình đau khổ bằng sự giận dữ, thì ta hãy nên thương xót người đó hơn. Chính vì vậy, ta cần phải cảm thông với nỗi đau của họ, vì họ đang bị vô minh chi phối nên mới hành động nông nỗi như thế. Có thể họ có quá nhiều nỗi khổ, niềm đau bởi sự đè nén, chất chứa lâu ngày nên lời lẽ không được hay cho lắm. Hạt giống giận hờn của họ luôn ẩn tàng sâu kín tận tâm thức nên ta phải thương yêu họ nhiều hơn là ghét bỏ.
Chúng ta muốn nhận diện được bản chất của sân hận thật không phải dễ dàng chút nào! Nó vốn dĩ không hình tướng, không có chỗ nơi, chỉ khi đối duyên xúc cảnh mới phát sinh. Chúng ta muốn chuyển hóa cơn giận trước khi nó bộc phát, thì ta phải thường xuyên quán chiếu, xem xét sâu vào nội tâm để mình luôn tỉnh giác trong từng tâm niệm.
Ta phải biết suy nghĩ sáng suốt trước khi nói và làm bất cứ điều gì để tránh gây thiệt hại cho cả mình và người. Chỉ cần ta khéo nhận diện mặt mũi trước khi cơn giận nổi lên thì khả năng nóng nảy sẽ dần hồi không có còn cơ hội để bộc phát nữa.
Chúng ta cần phải lấy gương soi lại mặt mình khi sự bực tức, nóng giận nổi lên để làm khổ một ai đó. Ta sẽ thấy một gương mặt nhăn nheo già cỗi khó ưa, chắc chắn ta sẽ trở nên xấu xí bởi những lần sân hận như thế. Nhận thức rõ điều này một phần cũng giúp ta bớt đi phần nào sân hận, bởi đâu ai muốn mình thành một kẻ xấu bị mọi người khinh chê.
Khi ta có thể làm chủ được những ý nghĩ, lời nói, hành động của mình, ta sẽ trở nên tự tin và không sợ hãi điều gì. Ta tự biết mình đã được rèn luyện đến độ sẽ không thể có một phản ứng giận dữ, ghen ghét dù chỉ là một ít để làm mình mất đi sự bình yên. Chỉ khi nào ta có thể hành xử với trái tim yêu thương và hiểu biết thì ta mới thật sự được bình an, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.   
Chúng ta có rất nhiều điều phải học trong cõi này, và có lẽ mục đích của cõi này chính là cơ hội để chúng ta rèn luyện mình thêm. Nếu ta ban phát tình thương đến cho người thì tự họ sẽ tìm đến với ta và cuộc sống không thiếu người yêu thương mình. Tuy nhiên, ta ban phát cho người khác tình thương không phải vì ta muốn cho, cũng không phải vì họ cần, không phải vì họ đáng để cho mà ta cho vì trái tim ta đã rộng mở bằng tất cả tấm lòng bao dung và độ lượng. 
Một người có lòng từ sẽ không có gì để mất. Nếu họ có bị người khác lợi dụng thì đó cũng là cơ hội để kiểm chứng lại sự tu tập của họ trong nhiều năm qua, là dịp để họ soi sáng lại chính mình có hành động đúng hay không. Tình thương vô điều kiện luôn tăng thêm sức mạnh cho con người chứ không phải làm con người thêm yếu đuối, nhưng nếu tình thương đi đôi với đam mê, dính mắc thì nó sẽ làm con người trở nên tham lam và ích kỷ.
Người không có lòng nhân khi ra đi rất lo lắng, hoảng sợ vì không biết mình sẽ đi về đâu. Người có tâm từ thì đón chờ cái chết với tâm tỉnh giác nên họ chắc chắn sẽ được tái sinh về cõi lành. Những gì ta làm với hành động tốt hay xấu đều sẽ theo ta đến tận cuối đời, tận giây phút lâm chung. Những thói quen xấu hoặc tốt cũng sẽ không thể thay đổi một cách đột ngột, ngoài trừ người đó huân tập được tâm từ bi rộng lớn.
 Lòng từ bi thể hiện khi chúng ta chia sẻ lòng xót thương với mọi người, thấy khổ liền giúp và lúc nào cũng cảm thông với nỗi khổ, niềm đau của người khác. Lòng bi phát sinh khi ta cảm nhận được sự đau khổ, không như ý của người khác trong chính bản thân mình. Chỉ có như thế, ta mới thực sự cảm thông được với họ, vì ta biết làm người khó ai được trọn vẹn, như ý. Người không có lòng từ bi sẽ luôn sống trong vô cảm, thấy người hoạn nạn dù là người thân, họ vẫn cứ lạnh lùng, dửng dưng coi như không có chuyện gì xãy ra.
 
  Thấy người khác khổ đau ta mở lòng thương xót là biểu hiện của tâm bi, ta mong muốn chia sẻ để giúp người vơi bớt nỗi đau. Sự thương hại không phải là tâm bi mà khi chúng ta nhìn thấy khổ đau của người khác chính là khổ đau của mình, đó là chúng ta đang hướng tới tâm bi.
Tâm bi, có nghĩa là sự rúng động của con tim trước nỗi đau hay sự mất mát của người khác. Nhưng nó không có nghĩa bạc nhược yếu đuối. Bước đầu tiên để phát triển tâm bi là chúng ta biết cởi mở và vị tha, biết được nguyên nhân dẫn đến sự khổ đau của mọi người.
Chúng ta chấp nhận được sự thật về khổ đau sẽ giúp ta cảm thấy thương xót mọi người nhiều hơn. Sự cảm thông và tha thứ là bước đầu dẫn đến tình yêu thương chân thật. Đức Phật đã giảng nghĩa rõ ràng về bản tánh của con người chúng ta. Dù hình tướng sai biệt nhưng tâm sáng suốt, tâm thương yêu ai ai cũng đều có. Chính vì chúng ta cho rằng thân này là thật ngã, là ta, là tôi, là mình, nên chúng ta phải bảo vệ mình, bảo vệ gia đình mình và đất nước mình.
Trong ta luôn đầy ắp những vọng động tham lam, ích kỷ do sự chấp ngã của “cái tôi” và chúng ta không ngừng bảo vệ “cái tôi” ấy. Nếu ai đó nhìn ta một cách không thân thiện hoặc tỏ vẻ không biết ơn, không thương yêu ta, giống như ta mong muốn, thì ta sẽ phát sinh sự thù hằn, ghét bỏ.    
Chính những người có lòng thương yêu bình đẳng, người hay cảm thông với nỗi đau, sự mất mát của người khác mới thật là người có an lạc, hạnh phúc. Phần lớn chúng ta đều thiếu lòng từ bi nên rất ít người được hạnh phúc thật sự. Người có lòng từ bi luôn sống có niềm vui vì khi ấy họ bớt nghĩ đến “cái tôi” của mình, do đó ít chấp ngã. Người sống hay chấp ngã nặng nề, sẽ không thể có niềm vui vì họ không bao giờ thỏa mãn được “cái tôi” của mình.
Khi chúng ta đã tu tập được lòng từ bi ta còn phải biết chia sẻ niềm vui với người khác, cho nên gọi là tùy hỷ. Đối nghịch với tùy hỷ là lòng ganh ghét, tật đố. Sự chia sẻ niềm vui là liều thuốc bổ nhiệm mầu để chữa bịnh ganh ghét và đố kỵ. Cuộc đời này nếu ta biết chia sẻ niềm vui với người khác thì chắc chắn mình sẽ có thêm nhiều cơ hội hạnh phúc hơn.  
Chúng ta phải luôn nhớ chấp ngã là nguồn gốc của mọi đau khổ, vì vậy khi ta có được niềm vui tự nơi bản thân mình thì phải cố gắng chia sẻ với người khác để họ cùng vui theo.    
Chúng ta tu tập tâm từ bi không chỉ để được bình yên, hạnh phúc mà còn mở rộng tấm lòng giúp đỡ người khác. Để có được tâm giải thoát, nhẹ nhàng, ta phải có sức chịu đựng bền bỉ trong mọi khó khăn chướng ngại. Người đã huân tập được lòng từ-bi-hỷ-xả sẽ có thể sống một đời bình yên, hạnh phúc mà không vướng bận bất cứ điều gì.
Trong gia đình, người chồng luôn lúc nào cũng thấy mình đúng mà người vợ cũng thấy mình phải, thành ra chẳng ai chịu nhường ai, cho nên gây lộn, cãi vã với nhau hoài. Nếu chúng ta đã nhường nhịn nhau thì phải bỏ qua luôn, đừng nhắc tới nhắc lui hoài, nhịn mà không chịu quên mà cứ nhắc lại chuyện xấu hoài sẽ làm người khác bực mình, sân si lên. Đó là một sự thật.
Cuộc sống từ cá nhân cho đến gia đình và xã hội, đều không bao giờ hoàn toàn hoà hợp theo ý mình, nên chúng ta đừng bao giờ đòi hỏi mọi thứ đều tốt đẹp. Chúng ta phải tập nhẫn nhịn bởi thói quen nhiều đời của con người ai cũng có sẵn tính nóng giận, đàn ông hay đàn bà cũng đều biết giận hết.
Chính vì vậy chúng ta phải khéo nhẫn nhịn nhau để bảo vệ mái ấm gia đình được tốt đẹp. Qua sự nhẫn nhịn đó ta còn phải hỷ xả, nghĩa là vui mà bỏ qua chứ đừng gượng bỏ. Chẳng qua ta còn quá khờ dại và nông nỗi nên mới cãi vã, chẳng biết nhường nhịn nhau.
Nay ta biết vậy rồi thì mình bỏ hết, đừng giận hờn làm gì nữa cho khổ xác thân này. Nếu chúng ta cứ nghĩ mình phải, người khác quấy thì ta cứ ôm ấp ghim gút trong lòng, mai mốt gặp lại cãi nhau nữa, rốt cuộc thì khổ đau vẫn cứ tiếp diễn hoài.
Chúng ta muốn phát khởi tâm từ bi rộng lớn thì phải biết kiềm chế, từ đó ta mới có sự cảm thông với mọi người. Thấy người khổ mình giúp, làm cho người được vui, ta cũng vui theo. Chúng ta cùng san sẻ nỗi khổ niềm đau và cùng vui với mọi người, mới là tình thương yêu chân thật. Bởi chúng ta cảm thông nhau trên nỗi khổ niềm đau, chúng ta mới sẵn sàng cùng nhau chia vui, sớt khổ.
Chúng ta thông cảm được sự khổ vui của mọi người là chúng ta bắt đầu phát triển tâm từ bi rộng lớn. Chúng ta tập cảm thông, chia sẻ nỗi khổ, niềm đau từ những người thân quen trong gia đình rồi dần dần lan rộng đến những người xa lạ bên ngoài.
Khi lòng từ bi đã tiềm ẩn trong ta thì mọi si mê, tham lam, ích kỷ, oán giận thù hằn theo đó bị tiêu diệt. Người từ bi không thể nổi nóng và chửi mắng kẻ khác. Thấy người gặp cảnh khổ, người có lòng từ bi còn không nỡ lấy mắt ngó mà cố tìm đủ mọi cách để giải khổ cho người. Người có lòng từ bi thì mọi hành động có tánh cách tranh đua, giành giật không còn nữa. Chính của mình mà còn đem ra giúp đỡ người khác thì không thể giành giật của người đem về cho riêng mình.
Hiện tướng dữ để điều phục đưa người về chỗ an vui, hạnh phúc là nghịch hạnh từ bi. Hạnh từ bi này hình như giống kẻ ác nhưng mai kia mới thấy rõ lòng từ bao la, rộng lớn của người đó. Người thể hiện lòng từ bi này cần phải sáng suốt, hiểu xa trông rộng, biết được tâm ý của người nên mới dùng nghịch hạnh để điều phục tâm ý họ. Dù thuận hạnh hay nghịch hạnh cũng cùng một nguồn ban vui, cứu khổ. Bản chất từ bi là an ổn, nhẹ nhàng, mát mẻ nên mọi chúng sanh khi gặp được đều cảm nhận niềm vui.
Lòng từ bi của chúng ta chỉ được viên mãn khi mọi vọng thức phân biệt không còn, vì vọng thức chạy theo nghiệp phân biệt có yêu, có ghét, buồn vui lẫn lộn nên khó đem tình thương yêu chân thật, bình đẳng đến với tất cả chúng sinh.
Từ bi là tình thương hoàn toàn không có toan tính hơn thua, được mất mà chỉ thấy khổ liền giúp. Bọn ma vương, ác quỉ sân hận, tham lam, tật đố gặp nước cam lộ từ bi thì đều chắp tay, quì gối qui hàng. Lòng từ bi có mặt ở đâu thì mọi khổ đau đều tan biến hết. Tấm lòng đó ngọt ngào như dòng sữa mẹ và mát dịu như ngọn gió chiều thu, trong sáng như ánh trăng rằm và phát sanh muôn ngàn công đức như lòng tốt phì nhiêu nuôi dưỡng vạn vật.
Do chúng ta biết rõ cuộc đời là mâu thuẫn, cho nên chúng ta phải điều hòa bằng hạnh nhẫn nhục và phát triển mở rộng lòng từ-bi-hỷ-xả. Chính do tâm từ bi phát khởi nên chúng ta mới thương yêu nhường nhịn, cảm thông và tha thứ cho nhau được. Tóm lại, muốn cho sự sống được bình yên, hạnh phúc thì chúng ta phải bền trí kiên trì thực tập hạnh nhẫn nhục, từ bi và hỷ xả.
 Tu dưỡng thân tâm để phát triển lòng từ bi rộng lớn, là một việc làm hết sức hợp lý cho nhân loại, mà ai ai cũng có thể làm được. Không cần phải có trí thức sâu sắc hay chữ nghĩa thấp kém hoặc người xuất gia làm được mà người tại gia không thể làm được.v.v.
Chúng ta tôn trọng, kính mến những ai đã mang sẵn lòng từ bi; tán thán, ca ngợi ai mới phát tâm từ bi và ước mơ, mong mỏi mọi người đều được thấm nhuần từ bi. Tất cả chúng ta hãy khơi dậy dòng suối từ bi, để một ngày kia nước từ bi tưới mát khắp cả nhân gian đang bị ngọn lửa nóng bức thiêu đốt bởi si mê và sân hận.
TÂM BIẾT ĐỦ LÀ NGƯỜI GIÀU NHẤT THIÊN HẠ
Ngày xưa có vị vua do nhờ biết tích lũy phước báo nhiều đời, nên được làm vua của các vì vua, là bậc thông minh trí tuệ hơn người nên thống trị khắp cả thế gian này. Vua tự xư mình là người giàu có nhất thiên hạ không ai bằng,  ông cai trị hết cõi đất này.
Nhưng dù sao mọi người vẫn còn may mắn vì bên cạnh nhà vua, có một vị cận thần rất thông minh và tài giỏi, ông ta luôn thương yêu mọi người bằng trái tim hiểu biết. Chính nhờ sự từ bi và trí tuệ của vị cận thần này mà vua đã tránh được rất nhiều lỗi lầm. Tuy nhiên, tham vọng muốn mình là người giàu nhất thế gian vẫn còn âm ĩ trong lòng nhà vua. Một hôm vua họp mặt tất cả những cận thần lại, và hỏi:
Này các khanh. Các khanh hãy nói cho trẫm biết trong đất nước của ta ai là người giàu nhất thiên hạ. Tất cả các cận thần đều cùng nhau đáp: Thưa hoàng thượng! trong vương quốc này, dưới sự trị vì của hoàng thượng, hoàng thượng là người giàu nhất không ai bằng. Vua cảm thấy rất thỏa mãn và hài lòng, khi nghe các cận thận tâu lên như vậy.
Một vị cận thần khác tên là Giải Thoát, mới bước ra và nói: Muôn tâu bệ hạ có một vị tỳ kheo tên là Tỉnh Giác, đời sống của vị ấy thật đơn giản, luôn sống hài hòa với muôn loài vật, đặc biệt là thầy không bao giờ ăn thịt cá và khuyên mọi người không nên sát sinh hại vật. Thức ăn chính của thầy là rau quả và các loại ngũ cốc. Đời sống của thầy thật đơn giản, dạ thưa bệ hạ…
Thần đã được tiếp xúc với vị thầy đó, nơi thầy ở muôn thú vây quanh hòa cùng cảnh vật thiên nhiên, dường như không có khoảng cách giữa con người và muôn loài thú ở đây. Nơi thầy ở còn có khoảng trên 300 vị khất sĩ khác đang tu tập theo sự chỉ dạy của thầy.
Chính thần đã chứng kiến khi đến giờ thọ trai, toàn thể các vị khất sĩ đều ăn cơm trong im lặng, không nghe tiếng khua chén bát, chậm rãi, khoan thai, họ ăn trong tỉnh giác. Trước khi ăn họ cúng Phật, và quán niệm công đức chúc phúc cho quý Phật tử. Sau khi ăn họ tụng bát nhã và hồi hướng công đức cho tất cả mọi người. Họ ăn vừa đủ, họ ăn trong sự biết ơn của thầy tổ,  đàn na tín thí, đất nước và tất cả chúng sinh. Khác với triều đình chúng ta, mỗi khi ăn uống nói cười rộn rã, vui chơi trong no say để rồi đánh mất mình trong thiên hạ, có khi tranh chấp cãi vã ngay khi đang ăn uống. Vua nghe vị cận thần tâu như thế, trong lòng muốn tìm đến để hỏi một vài lý do. 
Vài hôm sau, vua và đoàn tùy tùng đã đến chỗ ở của các vị khất sĩ ấy. Cây Bồ đề trước cổng sừng sửng hiên ngang với khoảng 4 người ôm không hết, có thể đã trên vài trăm tuổi, gốc Bồ đề có nhiều tua như cuộn tròn cả thân cây, tạo nên sự mát mẻ cho xung quanh.
Vua yêu cầu trực tiếp được diện kiến thầy trụ trì đó. Trong lúc chờ đợi ở nhà khách, vua bổng dưng nhìn một con người nhỏ nhắn đang tiến dần về phía mình mà không hề chớp mắt, mắt sáng tròn. Từng bước chân nhẹ nhàng an lạc, thảnh thơi của người ấy đã toát ra một năng lực tự tại, bình yên hạnh phúc. Vua chưa từng thấy một người nào có dáng vẻ uy nghi, trang nghiêm và thanh thản đến như vậy. Bóng người ấy tiến dần đến trước mặt nhà vua nở một nụ cười hồn hậu.
Vị thầy đó đã đến bên và vái chào tất cả mọi người, rồi ngồi xuống trong tư thế an nhiên. Sau những lời chào hỏi và chúc tụng, nhà vua đặt liền câu hỏi và thưa:
Thưa thầy, có phải thầy là vị khất sĩ mà mọi người vẫn thường đồn đãi là người giàu nhất thế gian này? Vị thầy đó chỉ đáp lại nhà vua bằng một nụ cười mĩm chi.
Thú thật với thầy, tôi chính là nhà vua của đất nước này. Đã từ lâu tôi nghe tiếng lành đồn xa mà cho đến tận hôm nay, tôi mới có cơ hội được diện kiến thầy. Sau khi gặp được thầy tôi đã cảm nhận được một niềm an vui đang dâng trào trong lòng.
Khi biết được người đứng trước mặt mình là một vị vua Chuyển luân thánh vương và những người xung quanh là các quan cận thần của triều đình nhưng nét mặt của vị thầy đó vẫn bình thản, an nhiên. Thầy luôn giữ được phong thái của người đã an nhiên tự tại, giải thoát.
Vị thầy đó mới hỏi nhà vua và các quan cận thần đến đây chắc có điều gì chỉ dạy! Ta chỉ muốn biết một sự thật, xưa nay mọi người đồn đoán thầy là người giàu nhất thế gian này. Vị thầy đó mới hỏi lại? Vậy theo nhà vua, thế nào là một người giàu nhất thế gian? Nhà vua trả lời: Người giàu nhất thế gian là người không có thiếu bất cứ một món báu vật quý giá, từ thức ăn uống ruộng vườn nhà cửa, người hầu thê thiếp mọi thứ đều có đầy đủ tất cả. Chẳng hạn như ta đây đang trị vì khắp thiên hạ.
Dạ thưa nhà vua, khi nào chúng ta cần tìm cầu một thứ gì đó thì người ấy mới thiếu phải không? Vâng đúng như thế. Một người không còn tìm cầu và mong muốn bất cứ một điều gì nữa, thì người đó có còn cái gì để mà thiếu nữa không? Thưa thầy, không ạ. Vậy thưa nhà vua, người giàu nhất thế gian là người không còn thấy thiếu bất cứ một thứ gì cho bản thân mình nữa, phải không? Ngay khi đó điều đức vua khám phá ra là người biết đủ dù nghèo mà vẫn giàu, còn người không biết đủ dù giàu có đến đâu vẫn thấy nghèo.
Và nhà vua cũng hiểu ra rằng vì sao mọi người nói vị thầy này là người giàu nhất thế gian mà trên người không có một thứ gì quý giá cả. Sau khi về lại hoàng cung hình ảnh an lạc thảnh thơi của vị thầy đó, đã làm cho nhà vua thức tỉnh trở lại mà biết buông xả mọi thứ.
Bắt đầu kể từ hôm đó, nhà vua đã ra lệnh đem phân phát tài sản cho những người dân nghèo trong cả nước. Vua thường xuyên đến vị thầy đó để học đạo giải thoát và phát tâm quy y làm đệ tử Phật-đà. Vua khuyên nhũ mọi người giữ gìn năm điều đạo đức, không sát sinh hại vật, không trộm cướp lường gạt của người khác, sống thủy chung một vợ một chồng, không nói dối để hại người, không uống rượu say sưa và cùng tu mười điều lành. Vua cũng đã và đang thực tập sống đời đơn giản, bằng cách giữ nghiêm giới cấm. Chính ngay tại đây và bây giờ, vua cũng cảm thấy mình là người giàu nhất vì dám từ bỏ hết tất cả mà sống đời đơn giản, đạm bạc.
Cuộc sống của dân chúng khắp mọi nơi đã được cơm no, áo ấm và sống trong vui vẻ, hạnh phúc nhờ thấm nhuần lời Phật dạy. Trước khi nhà vua bằng hà, nhà vua đã truyền trao cho vị thái tử kế nhiệm con trai mình khắc lên tấm mộ bia hàng chữ: Tâm biết đủ là người giàu nhất thế gian này.
Người Phật tử chân chính biết quay về bỏ ác làm lành lo tu học, nhờ đó mà  bớt khổ được vui. Người biết tu, đối với vật chất có bao nhiêu cũng thấy là đủ không đòi hỏi hơn. Càng ham muốn nhiều là càng gây đau khổ cho mình và người. Ai cho rằng hưởng được đầy đủ dục lạc thế gian là sung sướng, là hạnh phúc, kẻ đó đang sai lầm, không thấy đúng như thật. Chúng ta vì thèm  ăn món ngon vật lạ, nên phải giết hại các sinh vật. Suốt đời chúng ta cứ tìm cầu ăn uống nên từ đó đánh mất chính mình mà sống trong vô cảm.
Như chúng là người Phật tử chân chính đang trường trai giữ giới, nhưng mà thèm ăn ngon, nên nghĩ: “Nếu hôm nay có thịt mình ăn một bữa cho đã thèm”. Nghĩ như thế, chúng ta liền phá trai phạm giới ăn một bữa thịt thật no nê, để không còn thèm nữa. Nhưng ít lâu lại thèm, rồi phá trai phạm giới nữa, cứ như thế mà không giữ giới trọn vẹn.
Chúng ta phải biết tham muốn nhiều là gốc của đau khổ trong luân hồi sanh tử. Khi vừa khởi niệm tham muốn, chúng ta quyết chí không chiều theo nó để giữ cho thân tâm được trong sạch. Bệnh của con người là muốn được cái này lại tiếp muốn cái khác, cứ như thế mà muốn hoài đến khi gần chết nằm trên giường vẫn tiếc nuối, những thứ mình chưa thực hiện được. Chúng ta có ít thì sống theo ít, khi có dư thì chia sớt cho người cần, ta thấy rõ vật chất là tạm bợ, nên không khởi tâm mong cầu tham đắm.
Người hàng ngày chạy theo dục lạc thế gian, khi gần chết thân xác hư hoại, mà tình ái cứ buộc ràng với gia đình, người thân không muốn xa lìa, nên tiếc nuối trong đau khổ. Lại không biết mình sẽ đi về đâu, nên hoang mang lo sợ trong khủng hoảng.
Còn người biết tu hạnh buông xả không chất chứa, ba nghiệp lúc nào cũng thanh tịnh, nhưng tinh thần bình tĩnh sáng suốt, nên khi trút hơi thở cuối cùng rất nhẹ nhàng an ổn, vì đã biết chỗ đến. Đành rằng con người ai cũng chết, nhưng người chạy theo ngũ dục tạo nghiệp ác khi chết thì chịu quả báo khổ đau, còn người tu không tạo nghiệp ác mà tu nghiệp lành, khi chết sanh vào cõi lành hưởng phước an vui, hoặc được tự tại, giải thoát.
Người thế gian vì mê muội, không thấy được sự thật nhân quả nghiệp báo, nên mới tham muốn làm niềm vui, say mê đắm nhiễm, cho nó là số một. Người ý thức biết tham muốn nhiều là tai hại, là đau khổ, nên sống đời đơn giản đạm bạc để vững chải, thảnh thơi.
Chúng ta tham muốn về ngũ dục, có nghĩa là tham muốn về tiền bạc của cải vật chất, nhà cao cửa rộng, ruộng vườn cò bay thẳng cánh, đắm mê sắc đẹp, ham danh vọng quyền cao chức trọng, thích ăn ngon mặc đẹp và ưa thích ngủ nhiều.
Người thích ăn ngon, thân phải chạy ngược chạy xuôi, toan tính lo làm cho có nhiều tiền, mới mua được bữa ăn ngon theo sở thích. Như vậy thì tâm lao nhọc, thân vất vả mới được bữa ăn vừa miệng. Người đắm mê sắc đẹp, cả đời cứ đuổi theo hình bóng bên ngoài, thì sức khỏe hao mòn, tiền bạc hao hụt, có khi dẫn đến thân tàn ma dại. Người tham danh, kẻ tham tài cũng vậy, phải chạy ngược xuôi tranh giành để được danh, được lợi… mà làm tổn hại kẻ khác.
Người nào còn tham muốn là còn khổ, tham muốn nhiều thì khổ nhiều, ham muốn ít thì khổ ít. Chúng ta tham muốn cái gì cũng đều khổ cả. Chỉ người biết đủ thì sống đời an nhàn, thảnh thơi.
Người tu trong bốn món ăn, mặc, ở, bệnh được tín thí cho bao nhiêu thì dùng bấy nhiêu, không tham cầu đòi hỏi cho nhiều, để tiêu dùng cho thỏa thích hay chất chứa. Như vậy muốn hết khổ, chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ nơi tâm, để thấy rõ nguyên nhân đau khổ là do tham muốn nhiều mà dừng không gây tạo nghiệp ác. Như vậy, tâm biết đủ là người giàu nhất thiên hạ.
THÍCH ĐẠT MA PHỔ GIÁC
 
 

Tin cùng chuyên mục

 
BAN THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG
CƠ QUAN CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH ĐAK LAK
  Tổng biên tập: HT. Thích Châu Quang
Chịu trách nhiệm nội dung: ĐĐ. Thích Nguyên Huấn
  - Văn phòng: 117 Phan Bội Châu, TP. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đak Lak.
  - Bài viết xin gởi về theo địa chỉ Email: phatgiaodaklak@gmail.com
  - Ghi rõ nguồn phatgiaodaklak.org khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.
Email của VP. Ban Trị Sự - Nơi tiếp nhận các văn bản, giấy tờ hành chánh Giáo Hội
vpbtsphatgiaodaklak@gmail.com