910 912
Tin Tức » Phật Sự
Chia sẻ với bạn bè qua:
Nguyễn Phương. 12:58:24 31-10-2026 (GMT+7).
Kích cỡ chữ: Giảm Tăng

Tiểu sử đức Trưởng lão HT Thích Đồng Tiến (1941-2026)

Tiểu sử đức Trưởng lão HT Thích Đồng Tiến (1941-2026)Trưởng lão Hòa thượng Thích Đồng Tiến, tự Thông Hòa, hiệu Viên Hạnh, thế danh Huỳnh Đồng Tiến, sinh ngày 28 tháng 2 năm Tân Tỵ (1941) tại thôn Triều Sơn, xã Xuân Thọ 2, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Ngài được sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nhiều đời chân Nho tín Phật. Thân phụ là cụ ông Huỳnh Hữu Chí, thân mẫu là cụ bà Phan Thị Lứa. Gia đình của Ngài có 8 người con (gồm 4 trai, 4 gái), trong đó Ngài là người anh cả.
1.THÂN THẾ VÀ QUÁ TRÌNH XUẤT GIA, TU HỌC
Ngài xuất thân trong một họ tộc có truyền thống kính tin Tam bảo, nhiều thế hệ phát tâm xuất gia, trở thành những bậc danh tăng của Phật giáo Việt Nam. Trong đó có Hòa thượng Phúc Hộ (bác), Hòa thượng Hành Trụ (anh họ), Hòa thượng Trí Thành (cậu) và Hòa thượng Phước Trí (bác), cũng chính là bậc Bổn sư thế độ của Ngài.
Được trưởng dưỡng trong một gia tộc có truyền thống Phật giáo thâm sâu, hạt giống Bồ-đề nơi Ngài sớm được vun bồi, chỉ đợi nhân duyên hội đủ để nảy mầm và tăng trưởng.
Ngày mùng 8 tháng 2 năm Kỷ Sửu (1949), khi nhân duyên xuất trần đã chín muồi, Ngài đến Tổ đình Phước Sơn – Đồng Tròn, chí thành cầu xin Hòa thượng Phước Trí cho phép xuất gia học đạo. Cảm nhận được chí nguyện của người con Phật, Hòa thượng hoan hỷ tiếp nhận, thế độ và ban pháp danh Đồng Tiến, pháp tự Thông Hòa. Khi ấy, Ngài vừa tròn chín tuổi.
Năm 1957, nhận thấy điều kiện tu học tại địa phương chưa được thuận duyên, Hòa thượng Bổn sư cho phép Ngài vào Nha Trang tiếp tục con đường học đạo và học đời. Ngài theo học Phật pháp tại Phật học đường Hải Đức, đồng thời trau dồi thế học tại Trường Bồ Đề và Trường Lê Bá Không.
Năm 1960, Ngài thọ giới Sa-di.
Năm 1965, Ngài rời Nha Trang vào Sài Gòn, trú tại chùa Già Lam, tiếp tục con đường cầu học tại Đại học Vạn Hạnh và Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Năm 1968, được sự chấp thuận của Hòa thượng Bổn sư, Ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Hải Đức, Nha Trang, do Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đường đầu Hòa thượng truyền giới.
Sau khi thọ giới, Ngài trở về Tổ đình đảnh lễ Bổn sư. Tại đây, Hòa thượng Phước Trí ban cho Ngài pháp hiệu Viên Hạnh, chính thức truyền thừa pháp mạch đời thứ 43 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
2.THỜI KỲ HÀNH ĐẠO
a.Giáo dục và dấn thân
Trong những năm cuối ở Sài Gòn, khi Giáo hội tiếp quản và đổi tên trường tư thục Nguyễn Văn Khuê thành trường Bồ Đề Sài Gòn, Ngài được Hòa thượng Thích Quảng Liên mời giảng dạy môn Ngữ văn. Sau đó, Ngài tiếp tục dạy môn Tiếng Anh tại trường Bồ Đề Bình Dương. Thời gian này, Ngài vẫn đang là một vị Sa Di.
Năm 1970, Ngài được Giáo hội Phật giáo tỉnh Phú Yên thỉnh mời đảm nhiệm chức vụ Hiệu trưởng trường tư thục Bồ Đề Tuy Hòa.
Cuối năm 1975, khi hệ thống trường Bồ Đề được bàn giao cho nhà nước quản lý, Ngài trở về chùa Triều Tôn phụng sự thầy Bổn sư.
Giai đoạn hậu chiến, ngôi chùa vùng quê nghèo cũng lâm vào cảnh thiếu thốn, cơ cực như bao nếp nhà khác. Trước những xóm làng điêu tàn và tự viện đổ nát, Ngài cùng người dân đồng cam cộng khổ qua cuộc mưu sinh vất vả. Sáng vác cuốc ra đồng, chiều về giữ nhịp kinh kệ, Ngài chọn cuộc đời của một nông Tăng để tự túc sinh hoạt, đồng thời gìn giữ bồ đề tâm kiên định trước những chướng duyên cuộc sống. Tiếng chuông chùa trầm hùng và những lời kinh từ bi của Ngài đã góp phần chữa lành vết thương trên quê hương và trong lòng người bấy giờ.
Năm 1996, Trường Trung cấp Phật học Liễu Quán tỉnh Phú Yên thành lập. Ngài được Giáo hội tỉnh cử làm Hiệu trưởng kiêm Giáo thọ cho đến năm 2012. Với tinh thần "Kế vãng khai lai, đào tạo Tăng tài", Ngài không quản ngại đường xá xa xôi, lặn lội thân hành giảng dạy để hoàn thành sứ mệnh truyền đăng tục diệm cho hậu thế.
Năm 1997, Ngài được suy cử đảm trách chức vụ Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni tỉnh Phú Yên.
b. Công tác Giáo hội
Năm 1982, khi Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Phú Khánh được thành lập, Ngài đảm nhiệm chức vụ Chánh Đại diện Phật giáo huyện Đồng Xuân (bao gồm cả thị xã Sông Cầu ngày nay). Sau khi tách huyện vào năm 1985, Ngài tiếp tục giữ vai trò Chánh Đại diện Phật giáo huyện Sông Cầu cho đến năm 2011.
Năm 1994, Ngài được Hòa thượng Bổn sư giao phó trọng trách trụ trì chùa Triều Tôn. Nhằm kiến tạo nơi tu học trang nghiêm cho Tăng Ni và Phật tử, từ năm 2000, Ngài phát nguyện trùng tu chánh điện, nhà đông, nhà tây cùng nhiều công trình phụ cận. Đến năm 1998, Ngài được giao đảm nhiệm thêm chức vụ trụ trì Tổ đình Từ Quang (chùa Đá Trắng). Từ đây, cuộc đời tu hành của Ngài gắn liền với hai ngôi Tổ đình danh tiếng thuộc thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên.
Năm 2018, Ngài được Hội đồng Trị sự Trung ương thỉnh mời gánh vác trọng trách Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên lâm thời. Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh nhiệm kỳ VII (2017–2022) cùng năm, Ngài chính thức được suy cử làm Trưởng Ban Trị sự tỉnh, đồng thời được Trung ương Giáo hội cung thỉnh tham gia Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Năm 2022, Ngài tiếp tục được tái suy cử chức vụ Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Phú Yên nhiệm kỳ VIII (2022–2027). Đến năm 2026, sau khi sáp nhập địa giới hành chính, Ngài được suy tôn vào ngôi vị Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ I (2026–2031).
c. Công tác xã hội
Giai đoạn 2004–2021, Ngài tham gia Hội đồng Nhân dân xã Xuân Thọ 2 và thị xã Sông Cầu.
Giai đoạn 1980–2016, Ngài là thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sông Cầu và tỉnh Phú Yên.
Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc lần thứ IX (2022), Ngài vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc vì những đóng góp to lớn cho đạo pháp và dân tộc.
d. Tiếp tăng độ chúng và hoằng pháp lợi sanh
Dù điều kiện thời kỳ hậu chiến trắc trở, Ngài vẫn kiên định tâm nguyện "tác Như Lai xứ, hành Như Lai sự", thân hành đi bộ hàng chục cây số đến các vùng hẻo lánh như Hòa An, Từ Nham để truyền giới quy y. Cảm mến đạo phong đức hạnh của Ngài, hàng nghìn thiện tín nam nữ đã phát nguyện quy y bái sư.
Nhờ giới đức trang nghiêm, Ngài liên tục được Giáo hội cung thỉnh làm giới sư tại các Đại giới đàn:
* Đại giới đàn Liễu Quán I (1998) và II (2001) tại chùa Bảo Tịnh (Phú Yên): Cung thỉnh làm Đệ Tam và Đệ Tứ Tôn Chứng Tăng-già.
* Đại giới đàn Liễu Quán III, IV và V (năm 2005, 2011 và 2014) tại chùa Bảo Tịnh (Phú Yên): Cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê.
* Đại giới đàn Cam Lộ Giác Ngộ (2015) và Cam Lộ Giác Đạo (2022) tại Gia Lai: Cung thỉnh làm Tôn Chứng Tăng-già.
* Đại giới đàn Bồ Tát Quảng Đức (2019) và Trí Nghiêm (2022) tại Khánh Hòa: Cung thỉnh làm Tôn Chứng Tăng-già.
* Đại giới đàn Chơn Thành (2025) tại Bình Thuận: Cung thỉnh làm Tôn Chứng Tăng-già.
Song song với việc hoằng pháp, Ngài tận tâm tiếp tăng độ chúng, làm thầy y chỉ cho nhiều vị xuất gia để kế thừa tổ nghiệp.
Dù Phật sự Giáo hội và công tác xã hội đa đoan, nhưng mỗi khi trở về chùa, Ngài liền buông xả muôn duyên, mặc tấm áo hoại sắc lao động, tự tay cầm chiếc cuốc, an trú trong nếp sống của một nông tăng thanh bần.
Biểu hiện ấy chính là bài học "thân giáo" cao quý. Ngài đã dùng chính đời sống tự tại của mình để thức tỉnh đồ chúng: hiện hữu giữa cuộc đời nhưng tâm không nhiễm bụi trần, đi qua nhân gian mà chẳng để vạn vật đè nặng cõi lòng.
Ngay cả khi duyên thân trọng bệnh, Ngài vẫn an nhiên đối mặt. Nhìn thấu tấm thân này chỉ như áng phù vân, mọi sự ở đời đều là duyên sinh giả tạm. Ngài ung dung vượt lên tất cả, tận tâm cống hiến cho sự nghiệp Phật giáo tỉnh nhà đến những ngày tháng cuối cùng.
3.THỜI KỲ VIÊN TỊCH
Giữa tháng 9 âm lịch năm 2026, khi tứ chúng đệ tử đang chuẩn bị cho ngày húy kỵ của Hòa thượng Phước Trí, thì bệnh duyên một lần nữa lại đến. Ngài bình thản  và nói : “Tôi muốn mất cùng ngày giỗ của Thầy tôi, để đệ tử đỡ mệt nhọc.” Quả thật như tâm nguyện, vào lúc 3 giờ 45 phút ngày 21 tháng 9 âm lịch, Ngài đã thu thần viên tịch, ngay vào ngày cúng tiên thường của Hòa thượng Bổn sư.
Ngài như cội tùng già, luôn là điểm tựa vững chãi cho bốn chúng. Dẫu ai cũng mong Ngài trụ thế lâu hơn để lợi lạc quần sanh, nhưng báo thân Ngài cũng tuân theo quy luật vô thường: sinh rồi diệt, thành rồi hoại, trụ rồi không. Trước ngưỡng cửa tử sanh, Ngài mỉm cười nhẹ gót, tự tại vô ngại như chư vị lịch tổ cao tăng.
Những gì Ngài để lại cho cuộc đời không nằm ở tướng sắc có không, cũng chẳng phải ở những công trình vật chất, mà là một tấm lòng từ bi dung dị cùng tâm nguyện hoằng pháp lợi sinh không mệt mỏi. Như một bậc tượng vương với những bước chân dũng mãnh trải khắp nhân gian, giờ đây, Ngài đã vững chãi bước qua bờ kia. Dẫu nghìn trùng xa cách, nhưng thanh âm chánh pháp trầm hùng của Ngài vẫn mãi vang vọng, soi sáng tâm khảm của tứ chúng đệ tử hôm nay.

Sau cùng, với tấc lòng thành trí mọn, chúng con xin dâng lên Ngài đôi dòng kính ngưỡng:
Đồng hóa hữu duyên
Tiến bát nhã thuyền
Viên âm phổ thuyết
Hạnh đáo chân nguyên

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Từ Quang, Triều Tôn Đường Thượng, huý thượng Đồng hạ Tiến, tự Thông Hoà, hiệu Viên Hạnh tân viên tịch Hoà Thượng Giác Linh. 
Môn đồ pháp quyến đồng phụng soạn.
 
Chia sẻ với bạn bè qua: